Bảo vệ, Phục hồi &Tái hoà nhập

Tham vấn, Quản lý ca, Quản lý trung tâm, Hướng dẫn phỏng vấn....sắp tới Trị liệu...

Tham vấn, Quản lý ca, Quản lý trung tâm, Hướng dẫn phỏng vấn....sắp tới Trị liệu...

Tuesday, May 25, 2010

Cái gì là trọng tâm của quản lý ?

Trong mấy thập niên qua, tư duy của người Việt ta, nói chung, rất khác nhau về quản l‎ý chiến tranh và quản lý hòa bình.

Khi có chiến tranh ta tập trung vào chỉ một điểm “Con người Việt Nam quyết chiến, quyết thắng, sẵn sàng chết cho tổ quốc”.  Ta nói đến Thánh Gióng, một đứa bé lên ba, xung trận, gẫy kiếm sắt thì nhổ tre đánh giặc.  Ta nói đến Hai Bà Trưng,  nhi nữ anh hùng, thà chết không hàng.  Ta nói đến Hội Nghị Diên Hồng với các bô lão: “Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh?  Hy sinh!”  Đó là quản lý tập trung vào một điều duy nhất—cái tâm quyết thắng của con người.

Vào thời bình thì ta thấy quản lý‎ của ta tập trung vào vô số điều—chủ nghĩa chính trị, ngoại đạo/nội đạo, dầu hỏa,  tiền (viện trợ hay vay mượn quốc tế), đầu tư nước ngoài…   Nói chung là ta “tập trung” tư tưởng vào đủ mọi thứ, cho nên tư tưởng chẳng tập trung tí nào.
Khác biệt trong quản lý chiến tranh và quản lý hòa bình của ta rất rõ và kết quả cũng rất rõ:  Chúng ta là vô địch thế giới trong chiến tranh, nhưng về quản l‎ý hòa bình có lẽ đa số chúng ta đều cảm thấy cà xịch cà đụi—tư tưởng tản mạn như bị bồ đá, thất hồn thất vía, lơ ngơ láo ngáo.
Dĩ nhiên, ta cần công tâm để nhận thấy rằng trong hơn một thập niên rưỡi nay, Việt Nam phát triển kinh tế một mạch không ngừng với tỉ lệ phát triển cao có hạng trên thế giới.  Tức là dù cà xịch cà đụi nhưng vẫn cao, và dù cao nhưng vẫn cà xịch cà đụi.
Chúng ta loay hoay với rất nhiều vấn đề: giáo dục, phát triển nông thôn, trong sạch hóa guồng máy, nâng cao công bình, giảm thiểu bất công, an sinh xã hội cho người nghèo và người lớn tuổi, phát triển kinh tế đồng bộ, phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển xã hội và văn hóa của các dân tộc thiểu số anh em, đại đoàn kết dân tộc, liên hệ với các quốc gia nhất là các quốc gia có tranh chấp với ta…
Và nếu ta đọc báo chí hàng ngày, ta có thể cảm thấy một luồng gió lo âu áy náy bức xúc thổi thường trực trên quê hương.
Các bạn sinh ra sau thời chiến tranh có lẽ là khó cảm nhận điều này, nhưng các vị đã biết một tí mùi của thời chiến tranh đương nhiên phải thấy rất rõ sự khác biệt trong quản lý cũng như trong tâm thức nhân dân.  Sự khác biệt đó đương nhiên là do khác biệt về trọng tâm của quản lý:  Trong thời chiến, trọng tâm của quản l‎ý là cái tâm của con người; trong thời bình, trọng tâm của quản lý nằm ở đủ mọi nơi ngoài tâm con người, tức là chẳng nằm ở đâu cả.
Nhưng chúng ta phải nhìn lại vấn đề quản lý đất nước một cách rất nghiêm chỉnh, vì thế giới sắp sửa đi vào một giai đoạn phát triển nhanh khác.  Giai đoạn suy thoái hiện thời là giai đoạn điều chỉnh các bất quân bình trong nền kinh tế thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia tiền tiến.  Khi các điều chỉnh đã xong, khoảng một vài năm nữa, kinh tế thế giới sẽ tiếp tục bùng nổ với cuộc cách mạng thông tin đang tạm thời bị gián đoạn, và năng lực của cuộc cách mạnh thông tin, đang bị đè nén vì khủng hoảng, sẽ bùng nổ.  Tức là, thế giới sẽ có những chuyển biến rất nhanh về kỹ thuật và kinh tế.  Và những quốc gia đang mở mang như Việt Nam sẽ phải rất mệt mỏi để chạy theo, trừ khi chúng ta có chuẩn bị và thông minh đủ để “đứng trong cuộc chơi.”
Thế thì chúng ta phải làm gì để quản l‎ý bây giờ?
Câu trả lời rất hiển nhiên:  “Đặt trọng tâm quản lý đất nước vào con người.”
Chẳng có nơi nào khác ngoài con người để đặt trọng tâm.  Dầu hỏa thì cũng con người quản lý, đầu tư nước ngoài cũng do con người quản lý‎‎, luật cũng do con người quản lý, doanh nghiệp cũng do con người quản lý, IT cũng do con người quản lý…  Vậy thì, nếu con người không là trọng tâm của chính sách quản lý‎ đất nước, thì cái gì là trọng tâm?
Và con người thế nào? 
Công minh, liêm chính, yêu người  nghèo, yêu người áp bức, yêu nước hơn yêu mình, thấy rất sâu và  rất xa các vấn đề kinh tế xã hội, thấy toàn cảnh quốc ta và toàn cảnh thế giới.
Chúng ta đang làm gì để đào tạo những thế hệ Việt Nam như thế?
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Tuesday, April 6, 2010

Chinh phục lòng người

Có lẽ các bạn đều biết đến quyển How to Win Friends and Influence People của Dale Carnegie, mà ở Việt Nam dịch là Đắc Nhân Tâm—Làm thế nào để có nhiều bạn và ảnh hưởng được người khác. Đây đương nhiên là một quyển sách tốt về giao dịch, và chúng ta nên đọc nó để giỏi cách giao dịch.

Nhưng có một điều căn bản các bạn cần chú ý để hiểu giới hạn của các quyển sách loại đắc nhân tâm là: Đó là những quyển sách dạy chúng ta lấy lòng mọi người. Lòng mọi người là mục tiêu để nắm lấy của ta. Tốt cho chính trị gia muốn có nhiều phiếu hay doanh nhân muốn có nhiều khách hàng. Tuy nhiên, chúng ta đều hiểu rằng nếu cả đời ta chỉ chạy theo mục tiêu làm vừa lòng người khác thì có thể là ta sẽ như con choi choi cả đời chạy theo hàng triệu quả tim khác nhau, cố làm cho mọi người vừa lòng, và có thể là ta chẳng giữ được điều gì gọi là nguyên lý hay chân lý của riêng ta để mà nắm giữ.
Các quyển sách về đắc nhân tâm tốt khi ta muốn học cách để chinh phục lòng người, vì thông thường là ta muốn mọi người cùng vui vẻ và thích nghe điều ta nói. Nhưng nếu các bạn dùng chinh phục lòng người làm mục tiêu sống thì hỏng.
Sẽ có những lúc bạn phải phạt người học trò dù rằng hắn sẽ ghét thêm bạn chứ chẳng được gì. Có những lúc bạn cần nói thẳng với mọi người trong xóm “Xả rác thế này là sai. Chúng ta phải làm sạch đường phố” dù rằng có thể ¾ người trong xóm sẽ chế giễu bạn vì thế. Có những lúc ta phải nói với nhà nước là “Độc đoán thế này là sai” dù rằng sau đó toàn hệ thống thông tin tuyên truyền sẽ biến bạn thành chúa quỷ 3 đầu, 6 tay, 12 răng nanh với quần chúng.
Vì thế các vị thầy lớn của thế giới, và các truyền thống tâm linh lớn, chẳng ai dạy lấy lòng người khác cả, mà chỉ dạy ta lấy chính tâm ta mà thôi. Tâm ta là tâm hay đi lạc, hay nhảy choi choi, hay điên rồ, hay mù quáng, hay si mê… cho nên ta phải quản lý tâm ta, phải bỏ được màn si mê, tìm lại được tâm nguyên thủy tĩnh lặng trong sáng của mình.

Dĩ nhiên là thông thường thì nếu ta quản l‎ý tâm ta tốt, ta trở thành thành thật và nhân ái, và đo đó có nhiều người tự nhiên thương ta, tức là ta đắc nhân tâm một cách tự nhiên. Nhưng đắc nhân tâm trong trường hợp này là hậu quả chứ không phải mục tiêu. Và thực ra, như ta thấy trong các câu chuyện về các thiền sư, đôi khi ta thấy cần nói thật nói thẳng thì nói thật nói thẳng, dù rằng sau đó thì có thể chẳng đắc được tâm nào cả.
Khi Thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ mới sang Trung quốc, gặp Lương Vũ Đế, nhà vua hỏi: “Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, nuôi tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?” Bồ Đề Đạt Ma nói là đó chỉ là công đức nhỏ, chẳng được gì cả. Công đức thật sự phải là: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, nuôi tăng) mà cầu được.” Nhà vua không vui. Bồ Đề Đạt Ma không truyền pháp cho vua được nên đến chùa Thiếu Lâm ngồi nhìn vách tường 9 năm.
Nếu chúng ta hiểu được chính tâm của ta luôn nhảy dựng như khỉ, cực kỳ khó để kiểm soát, thì ta sẽ hiểu được hai điều chính: (1) Đắc tâm ta là chuyện phải làm cả đời. Và (3) tâm người khác thì ta không thể đắc được. Chẳng ai có thể nắm giữ tâm ai được.
Vì thế các chân sư thường hay kết thúc các lời dạy của mình: “Ai có tai thì nghe” hoặc “Ai muốn nghe thì nghe.” Ta chỉ nói điều gì, làm điều gì, tâm ta thấy là nên nói, nên làm. Nghe hay không là chuyện của người khác. Họ phải tự đắc tâm của họ. Không ai đắc tâm ai được.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Kỹ năng viết trong giao tiếp

Viết là một hình thức cơ bản của giao tiếp. Trong 4 kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết, ai cũng phải thừa nhận kĩ năng viết là khó nhất. Thực ra viết có khó đến thế không nhỉ?
Có lẽ khi chúng ta nói viết khó là muốn ám chỉ tới lối viết chuyên nghiệp hoặc có tính học thuật nhưng không phải ai khi mới bắt đầu cầm cây bút viết cũng đều nhằm mục đích đó. Bạn có thể viết vì nhiều lí do: viết nhật kí để tự nói chuyện với mình, viết thư để chia sẻ với người thân, viết văn để biểu lộ cảm xúc, viết bình luận trên forum vv…
Có người cho rằng viết lách dù chỉ là viết một đoạn văn ngắn chia sẻ cảm xúc thôi là một kĩ năng trời phú, ví như nhà thơ thì sinh ra đã làm được thơ, nhà văn sinh ra đã có thể tả một bông hoa dài cả chục trang giấy. Còn tôi? Văn chương là thứ tôi dốt nhất. Cả đời chưa bao giờ viết nổi một bài văn lấy điểm 8, nửa câu thơ bẻ đôi không có, làm sao mà viết được cái gì cho gọn gẽ trừ mấy dòng chat chit và bình luận ngắn trên các forum?
Viết thực ra chẳng là cái gì cao siêu. Cũng giống như mọi kĩ năng khác, bạn hoàn toàn có thể viết cho nhiều mục đích, và cùng rèn luyện kĩ năng này để ngày càng hoàn thiện hơn.
1. Viết là một cách để xả stress

Đó là lí do vì sao nhiều người hay viết nhật ký. Viết là một cách để chúng ta bày tỏ cảm xúc mà không làm ảnh hưởng đến những người khác. Hôm nay có điều gì khiến bạn tức giận, hay thấy âu lo, nhưng bạn không muốn nói ra để làm tổn thương ai vì thế bạn tìm đến trang giấy và nguệch ngoạc ra những lời tâm sự. Nỗi tức giận hay lo lắng bỗng chốc tan biến, và bạn sẽ thấy hiểu rõ hơn nguyên nhân của chúng trước khi bạn thực sự nói ra với ai đó.
Quá trình viết đã giúp bạn có thêm thời gian để bình tâm và suy nghĩ mọi việc chín chắn hơn.
2. Viết là để nhìn lại mình
Khi tranh luận một chủ đề nào đó việc viết trả lời thay vì chỉ nghĩ trong đầu sẽ giúp bạn nhìn nhận lại vấn đề rõ ràng hơn rất nhiều. Trước hết là trong quá trình viết não của bạn buộc phải tư duy nhiều hơn để lựa chọn những từ ngữ cho thích hợp và diễn đạt sao cho đúng ý bạn muốn nói. Có khi bạn phải viết đi viết lại vài lần mới xong. “Bút sa ga chết” :) , nếu bạn không muốn mình bị “ném đá” nhiều thì lại càng phải cẩn trọng trong câu chữ để tránh hiểu lầm. Và quá trình viết đi viết lại là quá trình bạn lật đi lật lại một vấn đề rất nhiều lần. Khi bạn có một câu trả lời tốt nghĩa là bạn đã rất hiểu vấn đề đó rồi.
Các bạn sinh viên khi nộp hồ sơ du học thường hay phải viết một bài luận khoảng 500-1500 chữ nói về mục đích học tập của mình. Đây là phần khó nhất trong bộ hồ sơ xin học và khiến ai cũng cảm thấy nản. Nhưng có một điều là sau khi viết xong bài luận này, các bạn cũng phải công nhận là dù mất nhiều thời gian và chật vật với nó, họ đã học được nhiều thứ, nhất là thấy hiểu bản thân mình hơn, xác định các mục tiêu trong cuộc sống rõ ràng hơn, và vì thế mà thấy tự tin hơn với lựa chọn học tập của mình.
3. Viết là để nhận
Ngoài những mục đích trên, viết còn là cách tốt nhất để “giải phóng” kiến thức của mình và tiếp nhận thêm những kiến thức mới.
Mỗi khi có một câu hỏi trong đầu mà chưa trả lời được, bạn sẽ luôn suy nghĩ về nó. Nếu không chia sẻ với ai bạn sẽ cảm thấy đầu óc thật bức bối khó chịu. Quá trình tiếp thu kiến thức cũng tương tự như thế. Khi bạn càng biết nhiều thì lượng kiến thức trong đầu sẽ ngày càng dày lên và có hàng loạt những câu hỏi cần phải trả lời. Chia sẻ với mọi người thông qua viết là cách để bạn khơi thông chúng tốt nhất. Và vì thế không chờ cho đến khi bạn muốn chia sẻ hay bạn có cảm xúc thì mới viết, hãy coi viết là một thói quen hằng ngày để bạn làm “trong” bộ não của mình và luôn sẵn sàng để tiếp nhận các kiến thức và ý tưởng mới mỗi ngày.
Làm thế nào để viết tốt?
Câu trả lời thật đơn giản: “Hãy thực hành mỗi ngày”.
Đừng bao giờ chờ cho cảm xúc đến, vì viết không phải là làm thơ, viết là chia sẻ. Hãy tưởng tượng như có một người bạn đang ngồi trước mặt và bạn kể chuyện cho họ nghe. Bạn có thể bắt đầu như thế này, “Buổi sáng hôm nay trên đường đi làm mình gặp một cụ già trông tội nghiệp lắm…”. Để dòng suy nghĩ chảy tự do và tay bạn chỉ làm nhiệm vụ chép lại chúng xuống giấy. Đừng bao giờ lo lắng về trình độ viết của mình và đặt mục tiêu phải hoàn hảo ngay ngay từ những câu chữ ban đầu. Cách đặt câu ngắt đoạn là kĩ thuật giúp bài viết hay hơn nhưng sự chân thành của người viết mới là yếu tố quyết định bài viết đó có hấp dẫn hay không.
Biên tập là công đoạn cuối cùng trước khi bạn đưa bài viết ra công chúng. Bạn đọc lại toàn bộ bài viết, bỏ đi những từ thừa, sắp xếp ý cho rõ ràng và có thể nhờ một người có kinh nghiệm cho nhận xét lần cuối.
Nếu như bạn thực hành viết mỗi ngày thì quá trình biên tập này sẽ ngày càng rút ngắn và bạn hoàn toàn có thể viết ra chính xác và rõ ràng những gì mình suy nghĩ.
Chúc bạn một ngày viết thành công nhé :) .
Hoàng Khánh Hòa

Thursday, April 1, 2010

Động cơ của nạn buôn người

Để ngăn chặn nạn buôn người và giúp nạn nhân, cần có những hiểu biết về tính dễ bị tổn thương và giới tính. Các nỗ lực chống nạn buôn người và hỗ trợ nạn nhân đã được thiết kế với các giả định sau:
  • Phụ nữ và trẻ em là những nạn nhân dễ bị tổn thương và thụ động trong các vụ buôn người
  • Nam giới là nạn nhân tự nguyện (hay chủ động) - họ biết trước về các rủi ro, là người đưa ra lựa chọn hợp lý và là người quyết định di cư.
  • Các thành kiến về giới đã khiến người đàn ông không được coi là nạn nhân dễ bị tổn thương và không cho họ nhận danh hiệu “nạn nhân” trong các vụ buôn người.
Các nhân tố đẩy
-nghèo đói
-nợ nần
-mất đất đai
-Bất ổn dân sự/xung đột vũ trang
-Bất ổn chính trị
-Thiên tai
-Thiếu cơ hội việc làm
-Thiếu hoặc không được giáo dục
-Đông con
-Tan vỡ hoặc bạo lực gia đình
-Phân biệt đối xử hoặc bạo hành đối với phụ nữ
-Bạo lực đối với trẻ em
- Các nhân tố thuận lợi
-Các mạng lưới xã hội
-Lịch sử di cư trong vùng
-Chấp nhận di cư trẻ em, phụ nữ và nam giới trong cộng đồng
-Gần khu vực thành thị hoặc biên giới
-Thiếu hiểu biết về nơi đến và điều kiện làm việc
-Tội phạm có tổ chức
-Chính phủ tham nhũng
-Truyền thống nuôi dạy trẻ em
-Các nhân tố kéo 
Nhu cầu lao động
-Các thông lệ tuyển dụng
-Hiểu sai về công việc sẽ làm
-Ảo tưởng kiếm tiền dễ dàng
-Theo gương và sự khích lệ của những đối tượng khác
-Bị mê hoặc bởi lối sống đô thị và khao khát độc lập
-Cơ hội có thêm thu nhập để giúp đỡ gia đình
-Muốn có mức sống cao hơn ở một nơi nào đó

Thuật ngữ trong BBN

Buôn người - sự vận chuyển, cố gắng vận chuyển hoặc chuyển người trái phép qua các đường biên giới quốc tế, vi phạm luật pháp của một hay nhiều quốc gia, bằng cách lừa bịp, vận chuyển bí mật hoặc gian lận giấy tờ. Hành vi buôn người thường xảy ra với sự đồng ý của nạn nhân – là những người đã trả tiền và thường bị bỏ rơi để tự xoay sở khi họ đã đến được nơi định đến
Buôn người - một hình thức nô lệ hiện đại liên quan đến hiện tượng bóc lột con người thông qua cưỡng chế bằng sức mạnh, áp bức, đe doạ, lừa gạt, vi phạm nhân quyền, giao kèo nợ, tước quyền tự do, thiếu quyền kiểm soát sự tự do và sức lao động của bản thân.
Buôn bán người vì mục đích tình dục - tuyển mộ, chứa chấp, vận chuyển, cung cấp, sử dụng một người vì mục đích thực hiện hành vi mua bán tình dục.
Buôn bán lao động - sử dụng lao động, gian lận, ép buộc tuyển dụng, chứa chấp, vận chuyển, sử dụng hoặc thuê một người để lao động hoặc phục vụ theo hình thức cưỡng bức lao động, giao kèo nợ hay nô lệ.
Ép buộc – a) đe doạ nghiêm trọng hoặc ràng buộc thân thể của một ai đó; b) bất kỳ hình thức nào khiến các nạn nhân tin rằng nếu họ không chịu thực hiện một hành vi nào đó thì họ sẽ phải chịu những tổn thất ghê gớm hoặc những ràng buộc về thân thể; hay c) lạm dụng hoặc đe doạ lạm dụng quy trình pháp lý.
Phục vụ ngoài ý muốn – một tình trạng phục vụ là kết quả của a) bất kỳ hình thức nào khiến một người tin rằng nếu họ không chịu thực hiện những điều kiện ấy, họ hoặc những người khác sẽ phải chịu những tổn thất nghiêm trọng hoặc những ràng buộc về thân thể; hay b) bị lạm dụng hoặc đe doạ lạm dụng quy trình pháp lý.
Lao động cưỡng bức - sử dụng, đe doạ cưỡng bức hoặc ràng buộc thân thể nhằm buộc người lao động phải tiếp tục lao động hoặc phục vụ
Giao kèo nợ - Một người tham gia giao kèo nợ khi sức lao động của họ được dùng làm công cụ trả nợ hoặc để trả một món tiền ứng trước. Người ta thường bị bóc lột lao động mà không được trả lương hoặc được trả một khoản lương rất ít ỏi (để còn trả nợ). Họ buộc phải lao động trong những điều kiện vi phạm nhân quyền. Giá trị lao động của các nạn nhân luôn lớn hơn giá trị món tiền mà họ đã vay hoặc đã được ứng trước.
Các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em – a) tất cả các hình thức nô lệ hoặc các hình thức giống như nô lệ, ví dụ như vận chuyển và buôn bán trẻ em, giao kèo nợ, tuyển dụng bắt buộc, tuyển dụng cưỡng bức trẻ em để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang; b) sử dụng, tàng trữ hoặc cung cấp trẻ em cho mục đích tình dục, mục đích khiêu dâm; c) sử dụng, tàng trữ hoặc cung cấp trẻ em cho những hoạt động phi pháp, đặc biệt là để sản xuất và buôn lậu ma tuý; d) buộc trẻ em làm việc trong những điều kiện tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và tinh thần của trẻ nhỏ.

Lắng Nghe bản thân

Một trong những lầm lỗi mà một số các vị thầy về tư duy tích cực hay thầy về tĩnh lặng (ngay cả một vài thiền sư) gặp thường nhất là tĩnh lặng đúng, buồn đúng, nổi nóng đúng… Nói chung là làm gì đúng thì không sao, sai mới là vấn đề. Ví du, mình ăn nói hồ đồ, có người phê phán đúng, vậy mình không nên nổi giận với người phê phán đúng. Nhưng mình không ăn trộm, tự nhiên có người nói là mình dùng tiền của chùa đi mua xe hơi riêng, nếu mình nổi giận với người này và đưa họ ra tòa, thì đó là chuyện tự nhiên hợp lý.

Đúng là bạn có quyền nổi giận và đưa người đó ra tòa trong trường hợp đó, và đa số mọi người trên thế giới đều sẽ làm thế, và đồng ý ‎ rằng làm thế là đúng.
Dĩ nhiên là đúng.
Nhưng, đó không phải là công phu tu duy tích cực, đó không phải là nội lực tĩnh lặng.
Nếu đa số mọi người trên thế giới làm thế, và bạn cũng làm thế, thì quá dễ. Việc gì bạn phải đọc và thực tập tĩnh lặng hàng ngày để làm gì? Nếu ta “học” lâu năm mà vẫn làm việc như đa số người trên thế giới chẳng học tí nào, thì tại sao phải tốn công học làm gì?
“Công phu” là làm điều mà đa số không làm được, không làm nổi. Sư phụ là vậy đó.
Công phu tĩnh lặng là tĩnh lặng vô điều kiện.
Hắn chửi mình có lý, mình tĩnh lặng. Hắn chửi mình vô lý, mình tĩnh lặng. Hắn chửi mình công bình, mình tĩnh lặng. Hắn chửi mình bất công, mình tĩnh lặng.
Luôn luôn tĩnh lặng trong tất cả mọi trường hợp, mọi tình huống, đó mới là công phu tĩnh lặng.
Tĩnh lặng vô điều kiện.
Điều này chúng ta cần nắm thật vững, vì chỉ cần quan sát các vị thầy một tí–từ các vị thầy chuyên về tư duy tích cực đến các thầy tu của các tôn giáo—là ta có thể thấy ngay là nhiều vị thầy tu tập nhiều năm vẫn có thể hiểu sai điểm này. Xin đọc lại Vậy À của Hakuin để ta hiểu tĩnh lặng vô điều kiên là gì.
Cho nên khi bạn có một người mạ lỵ bạn bất công, chẳng hạn, đừng nổi nóng và nghĩ cách đối phó ngay. Việc đầu tiên là nói với chính mình câu này: “Mạ lỵ đúng hay sai là việc của hắn. Việc của tôi là tĩnh lặng dù hắn mạ lỵ đúng hay sai.”
Sau khi bạn đã thật sự tĩnh lặng, tức là thấy trong lòng mình không buồn, không giận, không tức tối, và lại thấy thương anh chàng mạ lỵ mình vì “tội nghiệp, hắn còn ngập lặn trong bể u minh”, thì lúc đó bạn mới nên nghĩ đến việc phải làm gì với anh chàng. Có thể là chẳng phải làm gì cả, cứ lặng yên như chẳng gì xảy ra; nhưng cũng có thể vì công ích xã hội nên đưa hắn ra tòa, để mai mốt hắn không làm hại xã hội nữa.
Cứ làm điều gi mình nghĩ là cần làm. Nhưng trước đó, phải biết chắc là tâm mình tĩnh lặng.
Nhưng làm sao ta biết tâm ta tĩnh lặng?

Thưa rất dễ. Nếu có người mạ lỵ mình, chẳng hạn, mà (1) mình không giận, không ghét… ngược lại (2) cảm thấy rất thương và tội nghiệp người đó đang đắm chìm trong u minh như vậy, hai điều này chính là dấu hiệu rõ ràng của một con tim tĩnh lặng.
Sự vắng bóng của hởn giận và sự có mặt của lòng nhân ái là bằng chứng duy nhất của tâm tĩnh lặng. Chưa cảm được lòng nhân ái đó trong tâm bạn (không phải trong miệng bạn) thì tâm bạn vẫn chưa tĩnh lặng.
Nhịn nhưng trong lòng ấm ức, giận dỗi, là im lặng, nhưng chưa tĩnh lặng. Nhịn mà ấm ức có thể có hại cho sức khỏe của bạn vì stress và trầm cảm. Nhưng tĩnh lặng là chẳng có xung động, tức tối, ấm ức gì cả. Con tim vẫn tỉnh thức, an lạc.
Kiêu căng, hờn giận, ghen ghét, dối trá, nghi kỵ… tất cả đều là xung động, không tĩnh lặng.
(Một lúc nào đó ta có thể mất tĩnh lặng, và phạm chính điều cấm kỵ của riêng mình. Đó là vì con người yếu đuối. Lâu lâu trượt chân. Nhưng ít ra là trong tiêu chuẩn sống, ta phải hiểu rõ chuẩn của ta là gì).
Tĩnh lặng vô điều kiện.
Từ đó ta có tình yêu vô điều kiện.
Nhưng tĩnh lặng vô điều kiện để làm gì? Yêu vô điều kiện để làm gì? Sao không sống như mọi người khác?
Ờ, vậy sao? Thế học võ để làm gì, sao không sống như mọi người khác?
Nếu bạn đọc ĐCN mà không thực tập, như người đọc sách võ mà không tập võ, thì sao lại phải tốn thì giờ đọc làm gì?
Vấn đề lớn của rất nhiều người trên thế giới là đọc rất nhiều, “kiến thức” một đầu, nhưng không thực tập gì cả. Như người đọc sách đánh tennis, rồi bàn chuyện tennis, mà chẳng tập tennis bao giờ!
Tại sao?
Đọt Chuối Non không phải là phòng đọc, mà là phòng tập đó. :-)
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Kỳ thị và sự tổn thương trong tái hòa nhập

Tổng quan: Điều gì dẫn đến việc dễ bị tổn thương cho một người hay một cộng đồng trước nạn buôn người? Nhận định chung thường cho rằng nghèo khó và thất học là những yếu tố cơ bản, tuy nhiên, các bằng chứng  lại thường cho thấy nguyên nhân là những nhân tố khác. Các địa phuơng khác nhau sẽ có những nhân tố làm tăng nguy cơ bị buôn bán khác nhau.Chương trình dựa trên bằng chứng yêu cầu một hiểu biết về các yếu tố dễ tổ thương đã được xác định thông qua các nghiên cứu được thực hiện với các cá nhân và các cộng đồng có nguy cơ nhằm đưa ra các can thiệp thích hợp và tạo được ảnh hưởng tích cực trong phòng ngừa nạn buôn người và di cư nguy cơ cao.

Rất nhiều chương trình can thiệp trong phòng chống buôn bán người có nhận định chung rằng cho dù hoàn cảnh địa phương có thế nào thì các yếu tố dễ bị tổn thương là nghèo khó và sự thiếu hiểu biết về nạn buôn người. Do đó, các can thiệp trong phòng chống buôn bán người thường triển khai cùng với các chương trình xoá đói giảm nghèo và nâng cao nhận thức mà không điều tra các nhân tố chính dẫn đến nạn buôn người ở các địa phương này là do thu nhập của các hộ gia đình hay sự thiếu hiểu biết về buôn bán người và di cư an toàn. Có rất nhiều nghiên cứu thực hiện ở nhiều khu vực ở Châu Á đã cho rằng nghèo khó, thất học và thiếu hiểu biết về nạn buôn bán người không phải lúc nào cũng là những yếu tố dễ bị tổn thương chính. Do đó, chúng ta phải rất cẩn trọng trong việc đưa ra nhận định để tránh cho các can thiệp đi sai hướng.

Cho tới nay, ảnh hưởng của hầu hết các chương trình phòng chống và giảm thiểu nạn buôn người còn thấp và/hoặc khó đánh giá và chỉ có một số ngoại lệ đơn lẻ. Trong thực tế, các cố gắng nhằm đánh giá ảnh hưởng thực của các chương trình can thiệp trong phòng chống buôn bán người còn rất ít.  Rõ ràng rằng dân cư nhiều vùng có đủ hiểu biết về nguy cơ của nạn buôn người vẫn được cho là nhóm có nguy cơ cao; và hàng năm có hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người trong số đó bị buôn bán. Rõ ràng là các nhân tố mang tính địa phương rất phức tạp và không chỉ dừng lại ở nguyên nhân nghèo đói hay thiếu hiểu biết và có sự liên hệ rõ ràng với hiệu quả của các chương trình xoá đói giảm nghèo, học bổng, nâng cao nhận thức, cơ hội nghề nghiệp và các can thiệp phòng ngừa liên quan.

UNIAP sử dụng phương pháp tiếp cận từng bước và toàn diện nhằm nâng cao hiểu biết về các nhân tố dễ bị tổn thương. Sự lồng ghép công tác xác định yếu tố dễ bị tổn thương vào các biện pháp can thiệp nhằm phòng ngừa buôn bán người hiệu quả bao gồm 3 giai đoạn.  Hai giai đoạn nghiên cứu được nối tiếp bằng các biện pháp can thiệp phù hợp dựa trên các kết quả thu được từ chính những nghiên cứu trên. Tài liệu này đưa
ra một cái nhìn tổng quan về các giai đoạn xác định yếu tố dễ bị tổn thương, bằng nhiều tài liệu và văn bản có sẵn theo yêu cầu hơn.

Giai đoạn I là giai đoạn lập kế hoạch và xác định mục tiêu, với mục đích xác định các nhân tố về môi trường, kinh tế xã hội và cá thể góp phần làm tăng nguy cơ bị buôn bán. Phần lớn các mục tiêu có thể đạt được thông qua các nghiên cứu thực địa và việc phân tích dữ liệu lần hai.
Giai đoạn II kết hợp những thảo luận nhóm tập trung trên cơ sở cộng đồng với các nghiên cứu tại điểm nóng để xác định những nhân tố thực sự ảnh hưởng tới tính dễ bị tổn thương, và các nhóm dân cư có nguy cơ cao
nhất. Các nhóm tập trung tại những vùng trọng điểm có thể tập hợp các quan điểm về các yếu tố nguy cơ của nhiều thành viên khác nhau trong cộng đồng. Phương pháp này khá nhanh và dễ dàng, đồng thời tận dụng được nhiều người có uy tín trong cộng đồng đứng ra chủ trì các buổi đàm thoại của các nhóm và thu thập thông tin so sánh giữa các nhóm. Các nhóm trọng điểm bắt đầu các cuộc đối thoại và thu thập dữ liệu tại cộng
đồng nơi được coi là nhạy cảm để tiến hành điều tra trực tiếp về buôn bán người. Thậm chí không sử dụng thuật ngữ “buôn bán người”, các nhóm trọng điểm có thể đóng vai trò như một sân ga thảo luận để khuyến khích người dân cùng nhau suy nghĩ và bàn luận về việc di cư có thể dẫn đến những hậu quả như thế nào, những người trẻ tuổi hoặc cha mẹ có thể bị lừa bằng cách nào, công việc và các cơ hội nghề nghiệp nào hấp dẫn, làm thế nào để kiểm tra các cơ hội quá dễ dàng; và, cộng đồng có thể phân tích tình trạng của mình như thế nào và làm sao để cộng đồng đóng vai trò nổi bật trong việc đưa ra các giải pháp.

Dữ liệu thu thập được từ những khảo sát về các nhóm trọng điểm được sử dụng để  xác  định  biến  số  có  thể  xuất  hiện  trong các  khảo  sát định  lượng  tại  các điểm nóng. Vừa có vai  trò nâng cao nhận  thức với mục  tiêu giảm  thiểu yếu  tố dễ bị  tổn  thương, các khảo sát định  lượng còn cung cấp cái nhìn sâu hơn về
những hành động và quá trình ra quyết định thực sự có thể không được bộc lộ trong  các  buổi  thảo  luận  của  các  nhóm  tập  trung  (những  buổi  thảo  luận  này thường tập trung vào các quan niệm và tập quán phổ biến). Do đó, những khảo sát  số  lượng  tại  các  điểm  nóng  không  phản  ánh  những  gì  người  dân  nói hay những gì người dân nghĩ mà phản ánh những điều thực tế đang diễn ra.

Những khảo sát  tại các điểm nóng bao gồm cả các phỏng vấn sâu một  trường hợp trong nhóm mục tiêu tại địa bàn, phân thành 2 nhóm: nhóm những người đã từng bị buôn bán hoặc bị bóc lột và nhóm những người. Sau đó thu thập thông tin  về  gia  đình,  hộ  cá  thể,  cộng đồng  khác nhau  đối  với mỗi  trường  hợp mẫu
thông qua các phỏng vấn sâu, so sánh kết quả phỏng vấn của 2 nhóm để xác định nhân tố nào đóng vai trò quyết định dẫn đến các trường hợp bị buôn bán và bị bóc lột.
Giai đoạn III là giai đoạn bổ sung và đưa ra các can thiệp, giai đoạn này áp dụng những  bài  học  từ  kết  quả  nghiên  cứu  giai  đoạn  I  và  II  để  trực  tiếp  đưa  vào chương  trình chống BBN. Bảng ở cuối phần này  liệt kê mẫu minh hoạ một số nhân  tố dễ bị  tổn  thương phổ biến hơn,  thường có  tại khu vực  tiểu vùng sông Mêkông, cùng với những ví dụ về các loại hình can thiệp rộng rãi có thể ít nhiều thành công trong việc giảm thiểu nhân tố dễ bị tổn thương đã nêu. Khi xem xét bảng này điều cần cân nhắc là  trong nhiều môi  trường có sự diễn ra đồng  thời của một  số  nhân  tố  để  tạo  ra  dễ  bị  tổn  thương  –  và  điều  này  cũng  cũng  cần được xem xét khi phác thảo các biện pháp can thiệp thích hợp. 

Tóm lại, mục tiêu tổng quát của phương pháp tiếp cận mục tiêu mang tính dễ bị tổn  thương  là  (i)  nhằm  xác  định  và  thâm  nhập  vào một  điểm  nóng  tại  cộng đồng;(ii) nhằm hướng người dân suy nghĩ và nói về vấn đề có ảnh hưởng tới họ; (iii) và giúp họ  tham gia vào quá  trình phân  tích và phác  thảo những giải pháp
cho cộng đồng mình. Đồng thời phương pháp này cũng giúp cộng đồng và công nhân ở những nước đang phát triển hiểu hơn về những nhân tố nguy cơ thực sự (chứ không chỉ là nhận thức) để có được một bản thiết kế phong phú về các biện pháp phòng ngừa buôn bán người   và các chương  trình giảm  thiểu nguy cơ bị
tổn thương hiệu quả hơn. 
 Theo UNIAP SIREN

Wednesday, March 31, 2010

Tái Hòa Nhập

Xem xét lại Việc tái Hòa nhập-Các nạn nhân trở về họ thật sự cần gì và muốn gì?

Các bài học rút ra từ các chương trình tái hòa nhập ở Châu Á, đặc biệt, các cuộc phỏng vấn sâu với các nạn nhân người Thái lan và Phi líp pin trở về từ các vụ buôn bán người bên trong và ngoài châu Á ; n=59 (Số người được phỏng vấn là 59 người)
Tóm tắt :  Các nạn nhân người Thái Lan và Phi líp Pin tự trở về hoặc được trở về có sự trợ giúp từ các vụ buôn bán người đã cung cấp thông tin về các nhu cầu thực, các thách thức và các mong ước thực của họ, và sự hỗ trợ tái hòa nhập mà họ nhận được đã giúp họ hay cản trở sự hồi phục của họ như thế nào. .

Tác giả Ngài Anders Lisborg,Dựa theo Báo cáo nghiên cứu 2009 sắp ấn hành của Tổ chưc Lao động Quốc tế (ILO) về các chương trình tái hòa nhập ở Châu Á.

Trong những năm gần đây có sự gia tăng các chương trình và các cơ quan bảo vệ để hỗ trợ các nạn nhân của các vụ buôn bán người trên toàn thế giới.Tuy nhiên sự gia tăng này không phải lúc nào cũng đi kèm với chất lượng chăm sóc và các dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực hội nhập dài hạn dựa vào cộng đồng và tiến tới hội nhập thực sự vào đời sống thực.

Trong một vài trường hợp, các chương trình tái hòa nhập đã dẫn tới tác động hạn chế hoặc không thật sự tích cực đố với các nạn nhân trở về; Trong một vài trường hợp xấu nhất, các chương trình hỗ trợ được thiết kế chưa tốt đã thật sự gây tổn hại cho họ hơn là giúp đỡ họ. Các trường hợp được ghi nhận trong các tài liệu cho thấy nạn nhân trở về bị ràng buộc quá chặt chẽ trong các điều kiện khắt khe, và điều này đã hạn chế tính tự chủ và tự do của họ hơn là cải thiện việc này. Có một vài trường hợp sự trừng phạt về thể xác và tinh thần được áp dụng nhằm đưa họ vào khuôn khổ, và có rất nhiều ví dụ mà trong đó sự giáo dục và các kỹ năng đào tạo được áp dụng là không phù hợp—khiến tiêu phí thời gian của họ mà đáng lẽ ra việc này phải giúp họ tìm được công việc phù hợp và có cuộc sống ổn định.¹ Sau nhiều năm triển khai chương trình hổ trợ các nạn nhân trở về, đã đến lúc cần đánh giá xem chương trình nào phù hợp, chương trình nào chưa và các cách thức tiếp theo để cung cấp các sự hỗ trợ hiệu quả. Báo cáo này tóm tắt các bài học rút ra từ các chương trình tái hòa nhập ở Châu Á, This report summarises lessons learned from reintegration programs in Asia, đặc biệt các phát kiến chủ chốt của công trình nghiên cứu gần đây dựa trên các cuộc phỏng vấn sâu có chất lượng với 59 nạn nhân trở về từ các cuộc buôn bán người vì tình dục và lao động ở Thái Lan và Phi líp pin¹.

Thông tin thu thập được từ các nạn nhân trở về từ các vụ buôn bán người - về những gì cá nhân họ đã trải qua, phản hồi của họ về sự hỗ trợ tái hòa nhập mà họ nhận được, những mối lo chính và nhu cầu chính của họ khi trở về, và các đề xuất của họ nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả của sự hỗ trợ tái hòa nhập – đã cho thấy 5 bài học chính cần được rút ra . Mấu chốt của việc trao quyền cho nạn nhân là họ cần được thông tin về các lựa chọn khả thi về kinh tế khi họ đã sẵn sàng làm điều này, bao gồm cả các nạn nhân chưa được xác định rõ ràng. Việc trao quyền và được cung cấp thông tin về các lựa chọn được nhìn nhận như là bước cần thiết đầu tiên để các nạn nhân trở về kiểm soát được chính cuộc sống của họ.

Những điểm chính: Chương trình (tái) hòa nhập của bạn có bao gồm các yếu tố sau đây mà các nạn nhân thường cần và muốn hay không?
Sự hỗ trợ linh hoạt và cá thể hóa,Với các nạn nhân là người trưởng thành có quyền được thông tin về các sự lựa chọn –Đây là cách tiếp cận dựa vào quyền.
Sự trao quyền về mặt kinh tế , với các kỹ năng được đào tạo họ phải có mối liên hệ rõ ràng và trực tiếp với khu vực kinh tế tư nhân – chứ không phải đào tạo chỉ để mà đào tạo.
Tái di cư an toàn và đúng luật như một chiến lược sống thay thế: tái hòa nhập không nhất thiết có nghia là trở về nhà; nó không phải là cơ hội an toàn và khả thi đối với một số nạn nhân trở về.
Cần tích cực hơn trong dự báo tại các điểm nóng và các điểm kiểm soát nhập cư, để xác định các nạn nhân trở về không chính thức, những người mà trước đó chưa từng được xác nhận là nạn nhân của tệ nạn buôn người hay chưa hề nhận được dịch vụ hỗ trợ nào.
Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn sàng giúp đỡ khi những người trở về sẵn sàng nhận sự hỗ trợ . Các nạn nhân trở về có thể không đòi hỏi những dịch vụ này ngay lập tức.
Nạn nhân của các vụ buôn bán người trở về từ vô số các tình huống khác nhau, và tùy thuộc vào cách thức mà họ bị khai thác, tuổi tác của họ, giới tính của họ, đặc thù văn hóa, cá tính, và nhiều yếu tố khác – mỗi một cá thể có thể đơn giản có phản ứng khác nhau đối với sự hỗ trợ mà anh ấy hay chị ấy nhận được. Như một nạn nhân là một phụ nữ Thái lan nói: “mỗi người đều có hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả mọi người đều từng có cuộc sống khó khăn”2. Một số người trở về tự chủ được, một số khác thì không, một vài người có tiền tiết kiệm, một vài người khác thì không, một số người có tinh thần mạnh mẽ và năng động, một số khác thì vẫn còn yếu đối và dễ bị tổn thương. Bài học rút ra khi làm việc với các nạn nhân trở về là các chương trình hỗ trợ được thiết kế sẵn và phổ quát cho tất cả mọi người thường dẫn tới tình trạng hoặc những người trở về từ chối sự hỗ trợ hoặc buông xuôi vì họ cảm thấy sự hỗ trợ đó không phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của họ.
Cá thể hóa sự hỗ trợ nên triển khai ngay từ đầu vì mỗi nạn nhân trở về đều có những nhu cầu và mối quan tâm rất cụ thể, họ cũng có những mặt mạnh và những nguồn lực cũng như các động lực rất đặc thù của mình. Thông tin này cần phải được xác định, phân loại để đưa ra loại hình hỗ trợ cho phù hợp (chứ không phải thu thập dữ liệu chỉ để mà thu thập). Các nhà cung cấp dịch vụ sẽ đáp ứng được các nhu cầu hỗ trợ đã được cá thể hóa một cách tốt nhất khi họ năng động linh hoạt và được chuẩn bị để đáp ứng các nhu cầu khác nhau và các tình huống khác nhau thông qua một hệ thống tham chiếu rộng được đảm bảo, nghĩa là họ phải thiết lập được các mối liên kết chặt chẽ với các nhà cung cấp dịch vụ khác, các cơ quan chính quyền địa phương, và khu vực kinh tế tư nhân.
Các chương tình bảo vệ nạn nhân dựa vào quyền thành công tôn trọng quyền tự đưa ra quyết định của chính mình của các nạn nhân là người đã trưởng thành. Nhiều người lao động di cư họ phải di cư vì lý do kinh tế, và nhiều người trong số họ đã trở thành nạn nhân của tệ buôn bán người và kết cục họ trở về nhà với hai bàn tay trắng, với khoản tiền tiết kiệm ít ỏi không đủ chi tiêu hay thậm chí còn rơi vào tình trạng nợ nần. Một số người trở về bị rơi vào tình trạng căng thẳng triền miên do các thành viên khác trong gia đình kiếm được nhiều tiền hơn do có công việc ổn định hay được hỗ trợ thay thế mức sống. Do đó mặc dù sự hỗ trợ được triển khai, bao gồm cả việc tư vấn gia đình và lập kế hoạch tài chính vẫn cần lường trước và tôn trọng một thực tế là một số nạn nhân sẽ lựa chọn việc đi làm cho các khu vực kinh tế không chính thức, ngay tại địa phương hay ở nước ngoài. Thay vì từ chối những người hồi hương quyết định đi làm cho các cơ sở kinh tế không chính thức nhằm thoát khỏi áp lực kinh tế xã hội và kiếm nhiều tiền hơn, thì một điều quan trọng là cần phải tôn trọng quyền của các nạn nhân được đưa ra các quyết định của chính họ. Các dự định và mong ước của những người hồi hương cho tương lai của họ, bất kể là khu vực kinh tế nào họ lựa chọn để làm việc, hay cho dù họ ở nhà hoặc quyết định tái di cư cũng cần được tôn trọng. Các nhân viên hoạt động xã hội và các nhóm hỗ trợ đồng đẳng nên duy trì liên lác với các nạn nhân tái di cư kiểu này và tiếp tục cung cấp cho họ các hình thức hỗ trợ khác, thậm chí nếu nạn nhân này lúc đầu đã từ chối sự hỗ trợ yếu tố xô đẩy người ta di cư thường lại là những thách thức chính khi họ trở về. Những người hồi hương Thái Lan và Philippin khi được phỏng vấn thường cho rằng điều quan trọng là phản nhận ra các yếu tố đã là động lực thúc đẩy họ di cư, như là trách nhiệm với gia đình, nhu cầu kinh tế và sức ép nợ nần, thiếu sự lựa chọ phù hợp về công ăn việc làm, và niềm ao ước có được vị thế xã hội, sự tôn trọng mà chỉ có thể đạt được nếu họ giàu có, sung túc. Những yếu tố này cũng chính là những yếu tố gây căng thẳng nhất cho một phụ nữ sau khi trở về. Những phụ nữ từng là nạn nhân bị bán ra nước ngoài để lao động nói rằng bất chấp những tổn thương mà họ phải chịu đựng, mối quan tâm lớn nhất khi họ trở về là sự ủng hộ của các thành viên trong gia đình, có việc làm đem lại thu nhập ổn định, và có đủ tiền để không phải lo lắng về nợ nần. Trên thực tế, một vài công trình nghiên cứu cho thấy các nạn nhân hồi hương của tệ buôn người thường chú trọng vào các cơ hội cuộc sống tương lai và các sự độc lập về mặt kinh tế hơn là đào sâu vào những sự tổn thương mà họ phải chịu đựng hay mong ước quay trở lại những điều mà họ từng gặp trước khi di cư.¹ Hầu hết những người hồi hương Thái Lan và Philippin nói rằng điều mà họ lo lắng trước tiên và nhiều nhất là sự nợ nần và không đủ tiền tiết kiệm, và điều lo lắng thứ hai là phản ứng kì thị của cộng đồng. Thú vị là mối quan tâm của họ về việc bị kì thị trong cộng đồng khiến họ sợ hãi khi quay trở về còn hơn cả việc thất bại về mặt kinh tế ở nước ngoài. Như hai người hồi hương Philippin đã miêu tả về điều này như sau.
“Tôi không thể chấp nhận 1 thực tế là khi tôi trở về nhà mà không có tiền.Tôi đã là 1 kẻ thất bại. Tôi đã không thể gửi bất cứ thức gì cho gia đình và con trai tôi…”
“Tôi đã không thể chấp nhận 1 thực tế là tôi đã không thành công ở Dubai. Tôi thậm chí đã không có 1 đồng xu nào. Tôi đã trở về nhà ở Philippin như 1 kẻ chiến bại…”
Những người phụ nữ Thái Lan hồi hương cũng giải thích rằng họ có những mối lo tương tự, đặc biệt là sự kì thị liên quan đến công việc tình dục họ đã làm ở nước ngoài luôn đè nặng lên vai họ khi họ trở về nhà mà không có tiền.
“Nếu tôi có tiền mang về thì những người ở làng có thể sẽ thay đổi cái cách họ ứng xử với tôi trước đây …họ đã không phê phán tôi. Đáng lý ra tôi phải giống như 1 cái kẹo để cho họ ngửi, nhưng tôi lại trở thành sự rắc rối đối với họ và họ vẫn có thể nói là tôi thơm như 1 cái kẹo nếu như tôi có tiền…”


Đào tạo các kĩ năng có chất lượng và sự kết nối với khu vực kinh tế tư nhân. Mặc dù rất nhiều người hồi hương muốn làm việc để nâng cao mức sống của họ, họ thường chỉ có được những kĩ năng không đáp ứng được thị trường lao động và khi quay về họ phải đối mặt với sự thiếu hụt cơ hội để nhận được 1 công việc khả dĩ cái mà từng là độc lực xô đẩy họ tìm kiếm công việc ở nước ngoài. Do đó, kĩ năng làm việc có chất lượng và dạy nghề chính là thành tố quan trọng để hội nhập thành công và điều này cần phải giúp họ kiếm được việc làm và độc lập về mặt kinh tế. Tuy nhiên, các khóa đào tạo nghề mà các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra cho họ thường rất hạn chế cả về thời gian đào tạo lẫn chất lượng đào tạo và tính phù hợp đối với các thị trường lao động ở địa phương, cho dù các ý định là rất tốt. Thường thì các kĩ năng được đạo tạo không giúp họ có cơ hội tìm việc làm mới hoặc cải thiện đời sống lâu dài cho người hồi hương và những người phụ thuộc vào họ.

Để cải thiện chất lượng dạy nghề và khiến cho việc này trở nên năng động và thú vị hơn đối với người hồi hương, cần phải chuyển sang các mô hình đào tạo tại gia truyền thống của các tổ chức PCP và thiết lập sự kết nối chặt chẽ hơn với khu vực kinh tế tư nhân và các chương trình dạy nghề cần phải thiết thực hơn. Cũng cần phải đảm bảo rằng sau khi học nghề xong họ có việc làm, do đó mà thời gian đào tạo nghề không bị phí hoài. Sự hợp tác với khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các tổ chức của chủ lao động, các hiệp hội kinh doanh, và các phòng thương mại địa phương có thể cải thiện việc tạo công ăn việc làm cho những người hồi hương có tay nghề. Các hợp đồng học việc, hỗ trợ tiền công, tiền lương, và các chương trình hợp tác trách nhiệm xã hội tất cả đều có thể được sử dụng để xây dựng quỹ tiền thưởng giữa các chủ lao động nhầm tạo công ăn việc làm cho những người hồi hương có tay nghề và đã qua đào tạo
Tái di cư an toàn và hợp pháp như là một chiến lược sinh sống thay thế

Tái hòa nhập không nhất thiết phải về “về nhà”. Nhiều nạn nhân trở về sau khi bị buôn bán đã di cư lại để làm việc và tạo thu nhập cao hơn ở nước ngoài so với những gì có thể cơ tại “quê nhà”. Chỉ một số ít người Philippin được phỏng vấn trong cuộc điều tra này cho rằng việc quay về là tốt cho họ; trong các cuộc điều tra khác đối với các nạn nhân người Miến Điện và người Phillipin, hơn 70% các nạn nhân buôn người được trả về nước đã quyết định tái di cư, thậm chí sau khi nhận được các hỗ trợ từ các chương trình tái hòa nhập quê hương quy ước. Nhiều người trong số họ khi muốn tái di cư cảm thấy rằng trong chuyến đi tới họ sẽ được chuẩn bị tốt hơn để đối mặt với các nguy hiểm, và như vậy sẽ có thể tự bảo vệ cũng như tìm kiếm công việc tốt hơn. Trong khi việc dành các hỗ trợ về tài chính quyền kinh tế hợp pháp tại quê của người được trả về nước là rất quan trọng, việc dành các hỗ trợ cho người được trả về mà thực tế có thể sẽ tái di cư cũng quan trọng không kém.

Kết quả lý tưởng khi nạn nhân buôn người có thể trở về quê nhà với gia đình và cộng đồng và sống cuộc sống no đủ không phải lúc nào cũng thiết thực. Nhiều nạn nhân buôn người và bóc lột lao động cảm thấy do dự hoặc không hài lòng về việc trở về nhà. Đối với một số người, trở về nhà chỉ được coi là lựa chọn cuối cùng, thực hiện chỉ khi các điều kiện không thể trụ lại dược hoặc khi sự trục xuất là không thể tránh khỏi. Quay trở về nhà nhất định là giải pháp và lựa chọn tốt nhất cho một số người di cư; tuy nhiên, nhiều người không thể về nhà vì:

· Họ không được chấp nhận;

· Điều đó nguy hiểm đối với họ (xung đột, bị buôn bán lại);

· Họ cần sự trị liệu y tế hoặc tâm lý mà quê nhà không có; hoặc

· Họ đơn giản không có gia đình hoặc cộng đồng để quay về.

Điều này có nghĩa là nhiều người khi trở về nước phải hòa nhập vào các cộng đồng hơn là quê gốc của họ, vì vậy yêu cầu có các lựa chọn thay thế cho sự tái hòa nhập truyền thống. Ví dụ như, những người trở về nước tại các vùng nông thôn, mà đã sống và làm việc tại các thành phố trong một vài năm có thể thích hợp hơn với sự hòa nhập đô thị. Họ có thể cảm thấy ít bị phê phán hơn là ở quê nhà, và họ có thể cảm thấy rõ ràng là tại khu vực đô thị, sẽ có nhiều lựa chọn sinh sống và làm việc hơn.

Một phương pháp hòa nhập thay thế khác có thể được xem xét là phương pháp hòa nhập dựa trên điểm đến nếu khả thi. Những người sống sót sau khi bị buôn bán thích hợp cả về thể chất lẫn tinh thần và có thể sống hợp pháp tại quốc gia/vùng đến nên được hưởng các hỗ trợ và trợ giúp ban đầu để có được các giấy phép lao động cần thiết và tìm các công việc tử tế tại các khu vực làm việc không bị bóc lột. Đây đôi khi là lựa chọn thích hợp hơn cho nhiều nạn nhân buôn người, khi mà ở lại ddieemer đến với một công việc mới sẽ giúp họ hướng tới quyền kinh tế hợp pháp nhanh hơn, như được mô tả bởi một phụ nữ Phillipin dưới đây. Sauk hi trốn thoát khỏi bị bóc lột tại Brunei, cô vẫn không muốn trở về Phillipin, mà thay vào đó muốn thử cố gắng lại để có thể cải thiện tình hình tài chính của mình trước khi về nhà:
“Nếu chúng tôi chỉ cần có cơ hội làm việc tại đó (Brunei) trong sáu tháng, chúng tôi sẽ có thể tiết kiệm được một ít tiền. Nhưng đã không có kết quả gì. Không chỉ phải trở về, chúng tôi còn có những khoản nợ phải trả…”
Mặc dù phương pháp hòa nhập dựa trên điểm đến có vẻ là một thách thực về chính trị, trong nhiều trường hợp nó sẽ rất hiệu quả về kinh tế. Ví dụ, nếu người lao động di cư tại Nhà máy B bị bóc lột và xác định là nạn nhân buôn người, sau khi được sàng lọc và cung cấp các bảo vệ và dịch vụ cần thiết, một số người có thể được đề nghị một công việc mới tử tế tại Nhà máy A, nơi đang cần sử dụng người lao động di cư. Hình thức hòa nhập dựa trên điểm đến này nên được xem xét như một phương pháp thay thế cho việc dành thời gian và của cải để gửi nạn nhân tới các nơi ở tạm, hỗ trợ họ trong suốt những tháng hay những năm ở đó trước khi trả tiền để gửi họ về quê nhà, nơi mà sau đó nhiều người có thể sẽ lại tái di cư.
Hướng ra ngoài các điểm nóng/khu vực quay về nước một cách tích cực có thể giúp nhận biết những nạn nhận không chính thức hoặc chưa được nhận dạng của nạn buôn người
Đa số nạn nhân buôn người không được nhận dạng tại các điểm đến hoặc tham gia vào các chương trình trở về nước và tái hòa nhập chính thức. Thay vào đó, họ trở về nước lặng lẽ, như là những “người tự quay về”. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không cần có sự hỗ trợ. Thường là, họ chỉ đơn giản là chưa được biết về các hỗ trợ hiện có, và họ đã tự cố gắng một mình để đối mặt với các khó khăn khi về nước. Trong nghiên cứu của ILO về Thái Lan và Phillipin, một số người tự quay về người Thái Lan phê phán các nhà cung cấp dịch vụ đã không hướng tới những người tự quay về và quảng bá để các hỗ trợ của họ được biết đến rộng rãi hơn. Một số người phụ nữ đã phải cố gắng nhiều năm trời sau khi trở về nước trước khi có được bất kỳ ý tưởng nào về việc họ có thể đủ tư cách để được hỗ trợ. Một người tự trở về Thái Lan đã phản ánh những kinh nghiệm khắc nghiệt của bản thân:
“Tất cả các cơ quan chính phủ và nhóm phát triển cần phải tìm kiếm và giúp đỡ những người phụ nữ vừa trở về nhà. Bởi vì, nếu những phụ nữ đó không có sự lựa chọn, họ sẽ lại bị các đại lý dụ dỗ để ra đi lần nữa… nếu tôi được ai đó giúp đỡ khi lần đầu quay trở lại từ Nhật Bản, nếu tôi có công việc để làm (tại quê hương), tôi sẽ không quay trở lại Đài Loan hai lần, rồi sau đó trở về quê nhà và cố gắng tự vãn…”
Cần có các nỗ lực nhằm tạo được sự hiểu biết cho những người trở về về các khả năng hỗ trợ tại các cộng đồng điểm nóng tại địa phương, và hướng tới được những người trở về mà vẫn còn đối mặt với các thách thức tái hòa nhập. Một ví dụ của sự cần thiết hỗ trợ những nạn nhân buôn người tự trở về đã dduwwojc làm rõ trong quá trình thảo luận nhóm tập trung (FGDs) với các nạn nhân trở về từ các làng khác nhau tại miền Bắc Thái Lan. Tất cả những người tham gia FGD đều đề cập rằng mỗi người trong số họ đều biết rằng một vài nạn nhân tự trở về khác chưa bao giờ được hưởng hỗ trợ. Trong một phác thảo thô về khu vực địa phương, những người tham gia FGD dự đoán có hàng trăm phụ nữ đã tự trở lại sau khi bị buôn bán. Điều này cho thấy số lượng nạn nhân buôn người được xác định chính thức và hưởng hỗ trợ có vẻ như chỉ là phần nổi của tảng băng – một giả thuyết đồng thời được hỗ trợ bởi thực tế là số lượng nạn nhân nhận được các hỗ trợ khi trở về và tái hòa nhập chỉ là một phần nhỏ của số lượng nạn nhân được dự đoán chung ở cấp độ toàn cầu.

Để hướng tới được những người tự trở về, cần phải xem xét lại chiến lược xác định nạn nhân quy ước và áp dụng các phương pháp tích cực hơn để hướng tới, ví dụ như thông qua việc thành lập các mạng lưới theo dõi/hỗ trợ cộng đồng tại các cộng đồng nóng, hoặc thông qua việc hướng tới và cung cấp dịch vụ xuyên suốt quãng đường và các điểm trung chuyển được nạn nhân tự trở về sử dụng (ví dụ như các kênh trục xuất và điểm kiểm soát nhập cư). Một chiến lược liên quan khác là xâm nhập vào mạng lưới xã hội của người di cư. Một điều được biết đến rộng rãi là người di cư dựa rất nhiều vào các mạng lưới xã hội tại giai đoạn ngoại di cư, và điều này cũng có thể được sử dụng cho giai đoạn trở về. Trên thực tế, những thành viên hiện có của một nhóm hỗ trợ có thể giúp truyền bá thông tin về hỗ trợ hiện có tại các khu vực địa phương của họ và mời những nạn nhân trở về khác tới các hoạt động và cuộc họp tái hòa nhập, những người mà không thể xác định được.
Các nhà cung cấp dịch vụ cần luôn sẵn sàng cung cấp hoặc giới thiệu các dịch vụ khi người trở về sẵn sàng nhận sự hỗ trợ
Nhiều nạn nhân buôn người mới trở về từ nước ngoài (cả chính thức và không chính thức) từ chối được hỗ trợ và ban đầu thích tự giải quyết vấn đề của mình. Họ cảm thấy bị lấn át và ngờ vực về các hỗ trợ được đưa ra, và cảm thấy tự tin rằng họ có thể giải quyết được các thách thức. Nhiều phụ nữ Thái Lan trở về chính thức được phỏng vấn đã nói rằng họ đã nhận được nhiều thông tin từ các cán bộ chống buôn bán người khi trở về, nhưng đôi khi như vậy là quá nhiều để có thể tiếp thu tại thời điểm trở về. Một người phụ nữ cho biết sau hàng giờ di chuyển, cô chỉ muốn về nhà càng sớm càng tốt, và đã không chú ý nhiều tới điều mà các cán bộ chống buôn người nói với cô tại sân bay. Một người trở về Thái Lan khác cho biết cô đã không thể nhớ tên những cán bộ đã gặp cô tại sân bay, hay cơ quan mà những cán bộ đó đang làm việc, hay nội dung mà họ nói cho cô.

Tuy nhiên sau đó, sau vài tháng trở về nhà, nhiều người trở về nhận ra những khó khăn khi quay về. Khoản tiết kiệm (nếu có) có thể đã được sử dụng, vị thế xã hội tại gia đình và cộng đồng có thể đã thay đổi, họ nhận ra họ không thể kiếm được đủ số tiền cần cho họ và gia đình, và họ có thể cảm thấy bị nêu xấu hoặc kì thị tại cộng đồng địa phương. Tại thời điểm này, nhiều người sẽ muốn được bắt đầu tìm kiếm các giải pháp thay thế, bao gồm tái di cư thông qua các kênh không chính quy hoặc vào các nhóm công việc (thường là không chính thức) mà trước đây họ đã bị bóc lột. Nói cách khác, họ trở nên dễ bị tấn công bởi nạn tái buôn người. Tuy nhiên, khi họ gặp khó khăn và bắt đầu xem xét các giải pháp thay thế, họ cũng có thể ở trong giai đoạn mà họ sẽ cởi mở hơn để nhận các hộ trợ, thậm chí có thể chủ động tìm kiếm hỗ trợ. Ngay cả những người ban đầu từ chối vào thời điểm này có thể sẽ sẵn sàng và có thiện chí hơn trong việc tham gia vào các chương trình tái hòa nhập. Để xác định những phụ nữ trờ về mà có thể cần hỗ trợ, hoàn toàn có lý khi cố gắng liên lạc với họ tại thời điểm trở về. Tuy nhiên, cần xem xét sự kiệt quệ về tinh thần và thể chất của họ, và dòng chảy những mối bận tâm và lo lắng mà nhiều nạn nhân trải qua trong quá trình trở về, họ có thể chưa chuẩn bị để xem xét các loại hỗ trợ được đưa ra lúc tiếp xúc ban đầu. Thách thức đặt ra là phải liên lạc với họ theo cách không làm lấn át họ, nhưng vẫn cho cô ta/anh ta biết cách để nhận được hỗ trợ khi cô/anh ta sẵn sàng để nhận..

Đào tạo thật sự cho công việc thật sự. Nạn nhân buôn người Thái Lan, tự trở về sau khi bị bóc lột tại các quốc gia ngoài Đông Nam Á như Nhật Bản và các nước Trung Đông, nhận được các đào tạo ngay trong công việc (ở trên) và các cơ hội nghề nghiệp (ở dưới) tại một nhà hàng có tiếng tại miền bắc Thái Lan. Đào tạo và hỗ trợ công việc được cung cấp bởi NGO SEPOM, cùng với sự hỗ trợ của ILO
Phụ nữ Philippin ở cuối hành trình: khám phá vấn đề giới tính trong di cư trở lại. Tài liệu được trình bày tại Hội thảo Quốc tế về DI cư Lao động Quốc tế và sự Thay đổi kinh tế - xã hội tại Đông Nam Á và Đông Á, Trung tâm Di cư Scalabrini, 2001. Nghiên cứu này tập trung vào các di dân quay trở lại là nữ nói chung và không giới hạn trong các nạn nhân của việc buôn bán người.
Trong nghiên cứu Asis (2001), 76% các di dân quay trở về được phỏng vấn đều thể hiện mong muốn được di cư trở lại và trong quá trình đánh giá nội bộ của một chương trình tái hòa nhập (nghiên cứu truy nguyên), tác giả đã phát hiện ra rằng xấp xỉ 75% nạn nhân người Miến Điện (Shan) mà đã nhận được các hỗ trợ khi trở lại và tái hòa nhập, đều đã di cư lại Thái Lan trong vòng một năm được trả về nước.
Tổ chức Quốc tế về Di cư (IOM), một trong những tổ chức hang đầu tập trung vào tiến trình trờ về và tái hòa nhập, đã hỗ trợ xấp xỉ 15.000 người kể từ năm 1994(www.iom.int). Trong khi đây là một thành tích đáng biểu dương, chỉ có khoảng 0,15% số nạn nhân được dự đoán bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tính toán dựa trên ước đoán khoảng 700.000 người bị buôn bán hang năm trong 14 năm) và khoảng 0,6% con số dự đoán được sử dụng bởi ILO. Tính toán như vậy, dựa trên những ước đoán, cơ bản chỉ đưa ra được những dấu hiệu, và sẽ có những con số khác nhau đối với từng vùng và quốc gia. Tuy nhiên nghiên cứu tại các vùng cũng đưa ra các xu thế tương tự. Một nghiên cứu về nạn buôn người tại Đông Nam Âu cho kết quả là hỗ trợ tái hòa nhập chỉ được dành cho khoảng 7% phụ nữ bị buôn bán (UNICEF, UNOHCHR, OSCE-ODIHR, 2002).

Tìm hiểu bản thân và sự say mê, thôi thúc nghề nghiệp

Mỗi người chúng ta sinh ra là để làm việc gì đó trong đời. Người ta nói việc đó đã được tiền định, hoặc do nhân duyên kiếp trước hoặc là ‎ ‎ý chúa hoặc là cái gì đó trong gin của ta. Điều đó gọi là “tiếng gọi” (calling), tiếng kêu đưa ta vào con đường đặc biệt của riêng ta.

Nhiều người đang say mê điều họ làm từng giây đồng hồ sẽ xác nhận với bạn là họ đang làm điều họ được sinh ra để làm, vì họ cảm thấy thật sự say mê và hạnh phúc, dù điều đó đôi khi có thể mang đến biết bao là gian nan khổ ải.
Khi đã tìm ra được tiếng gọi trong lòng, tìm ra được sứ mệnh của mình rồi, mọi sự thành dễ dãi—tiền bạc, danh tiếng, thành công, thất bại… không thành vấn đề. Cứ mỗi ngày làm theo tiếng gọi, phục vụ sứ mệnh của mình, thì chuyện gì khác cũng đều trở thành không quan trọng. Chính vì thế mà có những người đã sẵn lòng mất tất cả, kể cả sinh mạng mình, chiến đấu cho tổ quốc, hay vào những khu rừng hẻo lánh để truyền đạo cho thổ dân ăn thịt người, hay hy sinh vượt mọi gian khổ để trở thành ca sĩ… Liếc mắt điểm nhanh qua chuyên mục Chứng Nhân của Đọt Chuối Non ta có thể nhận ra sự tập trung dữ dội vào sứ mệnh của mình của những người đã tìm ra tiếng gọi— Cô giáo Thùy Trâm, chị Nguyễn Thị Tiến tìm xác đồng đội, Robert Poduna trầm lặng trên đồi Buông, nhà cách mạng Y Ngông Niê Kdăm, Cô giáo Huỳnh Huệ, ca sĩ Thủy Tiên, Nguyễn Hữu Vinh lưu đày trên đảo xanh, Bùi Văn Toản ghi dấu tù nhân Côn Đảo.
Bí mật thành công là tìm được tiếng gọi trong lòng mình.

Nhưng, ngoại trừ một thiểu số may mắn nghe được tiếng gọi, đối với đa số người trên thế giới, tiếng gọi đó luôn luôn là một bí mật.
Tức là, bí mật thành công là tìm được tiếng gọi luôn luôn bí mật đó :-) Nhưng đã là bí mật thì không thể bật mí được. :-) Đó là vấn đề của đại đa số người, và vì thế mà đa số chúng ta thường cảm thấy đi qua cuộc đời như bèo dạt mây trôi, đời đẩy đến đâu trôi đến đó, chứ cũng chẳng biết sứ mệnh mình là gì.
Nếu bạn là một trong những người như thế thì, chào mừng bạn bước lên thuyền (cho cùng hội cùng thuyền)!
Những người đã nghe tiếng gọi đều xác nhận một điều là họ luôn luôn có thôi thúc trong lòng về một chuyện nào đó, không bỏ qua được. Thôi thúc có nhiều hình thức—khi thì ồ ại như đại dương, khi thì nhẹ nhàng như gió thoảng, nhưng điều giống nhau là thôi thúc luôn có mặt ở đó, luôn rỉ rả ngày này qua tháng nọ trong lòng, không trả lời nó thì không xong.
Để mình chia sẻ với các bạn kinh nghiệm riêng của mình. Từ năm 17 tuổi, mình đã có một câu hỏi trong đầu: “Làm thế nào để Việt Nam ra khỏi chiến tranh đói nghèo và thành cường thịnh?” Câu hỏi này chẳng có gì ồ ạt cả, nhưng nó cứ ở đó trong đầu ngày đêm, không chịu tắt công-tắc, rất phiền toái. Vì vậy mình nghiên cứu đủ thứ môn trên trời dưới đất để tìm câu trả lời—luật, tâm lý học, kinh tế học, chính trị học, triết học, thánh kinh…. hằng mấy chục năm không nghĩ. Rất nhiều khi rất bực mình vì chẳng tập trung tâm trí vào việc gì khác được… Và trong bao nhiêu năm mình chẳng hề nghĩ đến tiếng gọi của mình là gì, luôn luôn cảm thấy như mình chẳng có tiếng gọi gì ráo, vì làm nghề gì thấy cũng trống trải. Mãi cho đến những năm về sau này mình mới “ngộ” ra là mình đã có một tiếng gọi cả mấy mươi năm mà không thấy… tức là làm gì mà giúp được quê mẹ một tí thì mình vui, còn không thì làm bất kì việc gì trên đời cũng thấy trống trải.

Có lẽ là nhiều người chúng ta có những thôi thúc tương tự, nhưng ta không biết rằng đó là tiếng gọi của mình, có lẽ vì ta không để ‎ý đến nó, hoặc là bị những cái ồn ào khác trong đời sống bận rộn hàng ngày lấn át, làm ta không nghe được nó. Nhưng có lẽ cách dễ nhận ra nhất là ta không vui với việc ta đang làm. Cảm thấy trống trải và vô nghĩa. Đó rất có thể là dấu hiệu ta đang có một tiếng gọi bên trong mà chưa nghe được, và chưa bắt tay với nó được.
Thường ta hay chạy theo những tiếng nói bên ngoài—bố mẹ nói học cái này tốt cái kia xấu, bạn bè nói làm việc này việc kia kiếm ra tiền lẹ—cho nên ta không nghe được tiếng gọi bên trong. Hoặc đôi khi ta nghe, nhưng chẳng buồn làm gì với nó vì ta không muốn thay đổi cuộc sống hiện tại.
Mình nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy đã sống rất trọn vẹn, cho đến khi ta đã đi theo tiếng gọi trong lòng.
Trong thời gian chờ đợi, chúng ta nên làm hai điều: (1) Học và thực tập những kỹ năng tốt để xây vốn liếng, và để luôn luôn sẵn sàng cho tiếng gọi, dù tiếng gọi đó là gì. Và (2) tĩnh lặng thường xuyên để có thể nghe những tiếng nói của quả tim mình.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Động lực trong dịch vụ hỗ trợ NN

Vượt qua tình trạng mất động lực

Đã bao nhiêu lần bạn bắt đầu một công việc mới (như là một dự án cá nhân hoặc một thời khóa biểu tập thể dục) tràn đầy hăng say, và cuối cùng thì thấy động lực ban đầu đó dần bốc hơi? Điều này thường dẫn đến trầm cảm và khiến bạn sớm bỏ cuộc. Tôi đã trải qua hàng tá những lần bị “xì hơi” như vậy. Nhưng thật may mắn, với một chút suy nghĩ và nhìn lại bản thân, bạn có thể làm tình trạng tiêu cực này biến mất.
Điểm mấu chốt để tăng cường các cảm xúc của bạn là hiểu được chúng. Kết cấu tự nhiên của cảm xúc con người bao gồm lúc bổng lúc trầm. Khi chúng ta bắt đầu một dự án mới, chúng ta tràn đầy sự lạc quan rất lớn. Chúng ta chỉ nghĩ về những lợi ích ta mong đợi, và vì chúng ta chưa bắt đầu, chúng ta không nhận thức được những khó khăn. Cảm xúc cao hứng này tạo xúc tác cho hoạt động thể chất lẫn tinh thần. Đỉnh điểm là một điều tốt, vì sự tăng cường năng lượng sẽ làm các dự án khởi động. Nếu bạn là kiểu người sáng tạo như tôi, bạn biết rằng giai đoạn này là cực kỳ hăng say. Bạn cảm thấy như không có gì có thể ngăn bạn được.
Mặt trái của việc tăng cường năng lượng này là những kết thúc không tránh được. Việc tiêu tốn nhiều năng lượng sẽ làm bạn mệt mỏi, và sau khi sự lạc quan ban đầu mất đi, bạn sẽ cảm thấy cực kì mệt mỏi. Mặc cho bạn bật lên cao đến đâu, bạn sẽ rơi bịch xuống đất. Điều này gây ra mất tự tin. Sự kết hợp giữa mệt mỏi, những kết quả không đáng kể, và sự nhận thức ra những khó khăn đang tới sẽ khiến bạn chỉ muốn bỏ cuộc. Từ kinh nghiệm cá nhân tôi đã đúc kết ra một số cách để luôn mạnh mẽ trước những điều tiêu cực.
Luôn sẵn sàng cho quá trình đi xuống
Các cảm xúc, về bản chất, mất đi sức manh khi chúng ta hiểu chúng. Hãy chứng minh điều này với bản thân bạn. Lần sau khi tức giận, hãy dành một giây lát để suy nghĩ về lí do bên cạnh cảm xúc. Khi tôi dừng lại và suy nghĩ, thật dễ để thấy rằng nỗi tức giận của tôi gây ra do sự mất an toàn/ích kỉ/ghen tị vv…Sau khi tôi hiểu được nguyên nhân thì nỗi tức giận biến mất.
Kĩ thuật này áp dụng tương tự cho quá trình mất đi động lực. Thay vì chìm vào tiêu cực, hãy lùi lại và phân tích. Nhìn vào các nguyên nhân. Bạn có đang mệt mỏi, kiệt sức, thất vọng do các kết quả công việc? Liệu các cảm xúc này có chính đáng hay chúng là sản phẩm phụ của một điểm xuống thấp trong chuỗi cảm xúc của bạn?
Để mô tả những ý tưởng này, tôi sẽ sử dụng dự án gần đây nhất của mình như là một ví dụ, đó là việc thiết kế website này. Khi tôi ra mắt Pick the Brain tôi đã mất rất nhiều công sức. Tôi hoàn toàn không biết gì về blogging, thiết kế web, và tăng số lượng người đọc vì thế có một đường cong kiến thức rất dốc. Viết các bài mới, sắp xếp trang web, và cố gắng thu hút nhiều lượt người đọc gần như lấy hết thời gian rảnh của tôi. Khoảng sau ba tuần thì tôi hoàn toàn kiệt sức. Tôi bị trầm cảm và bắt đầu đặt câu hỏi liệu trang web của mình có đáng làm hay không. Tôi không thấy bất cứ một kết quả nào đáp lại, và tôi bắt đầu thấy rất nhiều lỗi trong bài viết của mình và mục đích của trang web. Đây là những giây phút mà tôi đã chấp nhận thất bại.
Một lí do tôi đã vượt qua được sự mất động lực này đó là tôi đã sẵn sàng cho một quá trình đi xuống. Trước đó, tôi đã nghiên cứu về blogging và biết rằng thường thì mất khoảng 9 đến 12 tháng trước khi một website bắt đầu có được lượng độc giả tương đối. Biết được rằng tôi chưa thành công là hoàn toàn bình thường, tôi đã vượt qua giai đoạn đó. Điều này cũng đúng cho những nỗ lực khác. Nếu bạn hiểu là giảm 20 pounds trong vòng một tháng là không thực tế, bạn sẽ có thể chấp nhận việc chỉ giảm được 5 pound rất dễ dàng.
Tôi cũng biết rằng các cảm xúc của mình đã sẵn sàng cho quá trình đi xuống từ cao điểm cảm xúc ban đầu. Tôi đã rất hứng khởi khi ra mắt website, và các kì vọng cũng lên cao. Giấc mơ về thu nhập từ AdSense nhảy múa trong đầu tôi và tôi đã vẽ ra một đám các độc giả trung thành cứ như là họ cũng hứng thú như tôi. Nhưng vì tôi hiểu được quá trình cảm xúc của mình, tôi nhận ra sự lạc quan này sẽ dẫn tới trầm cảm. Trong suy nghĩ của mình, tôi đã nhìn thấy trước cuộc chiến động lực đang hiện dần, và khi nó đến tôi đã sẵn sàng.
Đánh giá lại chiến lược và động lực của bạn

Sự trôi qua của đỉnh cảm xúc là một điều không may mà lại hóa may vì nó cho phép chúng ta đánh giá lại các kế hoạch của mình từ một cái nhìn mới. Ban đầu chúng ta bị mờ mắt bởi sự lạc quan của bản thân. Sau khi mất đi động lực chúng ta có thể nhìn thấy những lỗ hổng trong các kế hoạch của chúng ta. Chúng ta có thể thấy thất vọng về bản thân và bỏ cuộc, hoặc chúng ta có thể sử dụng cảm xúc tiêu cực này để phát hiện ra các lỗi và sửa chúng. Sau khi tôi xốc mình lại khỏi sự tụt dốc cảm xúc, tôi quay trở lại những suy nghĩ tiêu cực và dùng chúng để phát triển trang web. Thái độ tiêu cực đã mở mắt tôi. Nó làm tôi thực tế hơn về các khả năng và kì vọng của mình. Quá trình đi xuống của cảm xúc đưa chúng ta quay trở lại với thực tế. Không có chúng chúng ta sẽ trở nên điên cuồng với sự tự tin không giới hạn.
Sử dụng quá trình mất động lực như là một cơ hội để xem lại động lực của bạn thực sự là gì. Một lí do khiến tôi mất động lực đó là tôi trở nên quá lo lắng với vấn đề tài chính của blog và mất đi cái nhìn về lí do thực sự đã khiến tôi làm trang web: chia sẻ niềm đam mê của tôi về quá trình phát triển bản thân và kiếm tìm hạnh phúc. Khi tôi xem xét lại động lực của tôi với đam mê của tôi, sự thiếu hụt các kết quả không còn là vấn đề. Động lực của tôi quay trở lại vì tôi nhận ra rằng việc kết nối mọi người qua bài viết của tôi chính là mục đích cuối cùng. Thậm chí nếu trang này không bao giờ đem đến cho tôi một xu nào, việc chia sẻ các ý tưởng và kinh nghiệm của tôi giúp mọi người thì cũng là một điều đáng nỗ lực.
Thực sự là, đôi khi bỏ cuộc là một quyết định đúng đắn. Nếu bạn bắt đầu làm điều gì đó vì một lí do sai bạn sẽ mất đi động lực. Đây là điều tốt. Nó cho phép chúng ta nhìn thấy cái gì thực sự tạo động lực cho chúng ta. Trong những trường hợp này, lựa chọn tốt nhất là đi tiếp tới một nỗ lực mới. Đừng chiến đấu với sự nghi ngờ bản thân, hãy sử dụng nó như là một lợi ích của bạn.
(Hoàng Khánh Hòa dịch)
.
Overcome the Loss of Motivation

Sunday, March 28, 2010

Tự Nhận Thức

Bạn không thể nào thẳng tiến bước trên đường đời cho đến khi bạn biết cho qua và học hỏi từ những thất bại, sai lầm và đau buồn trong quá khứ.
Hạnh phúc chỉ đến với những ai biết rơi lệ khi tổn thương, biết đau đớn khi mất mát, biết khát khao và nuôi dưỡng những giấc mơ, biết cố gắng làm lại khi thất bại.
Hãy tự đặt mình trong vị trí của người khác. Nếu trong hoàn cảnh ấy bạn cảm thấy bị tổn thương, thì người khác cũng sẽ cảm nhận như vậy.
Hãy đi đến nơi nào bạn muốn, làm những gì bạn khát khao, trở thành những ai mà bạn mong muốn, bởi vì bạn chỉ có một cuộc đời và một cơ hội để làm tất cả những gì bạn mơ ước.
Đôi khi một cái gì đó đã vuột khỏi tầm tay rồi chúng ta mới biết rằng mình đã từng có nó, và mới cảm nhận được rằng điều đó quan trọng và có ý nghĩa biết bao với mình. 

Saturday, March 27, 2010

MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

1. Chấp nhận thân chủ vô điều kiện
2. Khuyến khích và tạo mọi điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề của họ
3. Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ
4. Tôn trọng sự khác biệt & độc đáo của mỗi cá nhân
5. Giữ bí mật

6. Tự ý thức về bản thân và công việc
7. Quan hệ giữa cán bộ xã hội và thân chủ

Công tác xã hội không phải là xoa dịu hay bảo bọc mà là “giúp để thân chủ tự giúp
“Tham gia” và “tư quyết” chính là bí quyết thành công của công tác xã hội, vì đó là sự thay đổi bền vững xuất phát từ phía thân chủ
Vai trò của các cán bộ xã hội:
•Tiếp cận TC
•Tìm hiểu, xác minh, xác định nhu cầu của TC
•Trao đổi với gia đình, chính quyền đoàn thể hoặc CĐ để có thêm thông tin, nhằm giúp hiểu biết đầy đủ và thấu đáo hơn về TC
•Giới thiệu với TC về các dịch vụ mà dự án đang cung cấp
•Hỗ trợ & cùng TC xây dựng kế hoạch phát triển bản thân trong tương lai với từng mục tiêu cụ thể
Động viên và khuyến khích TC
Không làm thay TC
Không quyết định thay TC
Không quá kỳ vọng nơi TC
Truyền thông giáo dục để giúp TC nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ & chuyển đổi hành vi
Theo dõi, đánh giá sự chuyển biến qua thái độ & hành vi của TC – ghi nhận vào hồ sơ, báo cáo
Luôn động viên & lắng nghe TC một cách tích cực
Tôn trọng quyền tự quyết của TC

Giáo dục kỹ năng sống

I. KÜ n¨ng sèng lµ g×?

Cã nhiÒu quan niÖm vÒ KNS vµ mçi quan niÖm l¹i ®­îc diÔn ®¹t theo nh÷ng c¸ch kh¸c nhau. Song nh×n chung th× KNS lµ nh÷ng kÜ n¨ng thiÕt thùc mµ con ng­êi cÇn ®Ó cã cuéc sèng an toµn, khoÎ m¹nh vµ cã chÊt l­îng.

Theo Tæ chøc y tÕ thÕ giíi, ®ã lµ nh÷ng kh¶ n¨ng t©m lÝ x· héi vµ kh¶ n¨ng giao tiÕp mµ mçi c¸ nh©n cã thÓ cã ®­îc ®Ó t­¬ng t¸c mét c¸ch hiÖu qu¶ víi ng­êi kh¸c vµ ®Ó gi¶i quyÕt, øng phã mét c¸ch tÝch cùc tr­íc nh÷ng vÊn ®Ò, nh÷ng th¸ch thøc cña cuéc sèng hµng ngµy.

KNS lµ c¸ch nh»m gióp chóng ta chuyÓn kiÕn thøc, th¸i ®é vµ gi¸ trÞ thµnh hµnh ®éng theo xu h­íng tÝch cùc vµ mang tÝnh x©y dùng.

KNS th­êng g¾n víi mét bèi c¶nh ®Ó ng­êi ta cã thÓ hiÓu vµ thùc hµnh mét c¸ch cô thÓ. Nã g¾n liÒn víi mét néi dung gi¸o dôc nhÊt ®Þnh, cho phÐp chóng ta tr¶ lêi nh÷ng c©u hái nh­: Chóng ta cÇn cã th¸i ®é tù kh¼ng ®Þnh vÒ ®iÒu g× ? Chóng ta cÇn cã quyÕt ®Þnh liªn quan ®Õn ®iÒu g× ?…

Kh¸i niÖm KNS ®­îc hiÓu theo nhiÒu c¸ch kh¸c nhau ë tõng Quèc gia. ë mét sè n­íc, KNS ®­îc h­íng vµo gi¸o dôc vÖ sinh, dinh d­ìng vµ phßng bÖnh. ë mét sè n­íc kh¸c, GD KNS ®­îc h­íng vµo gi¸o dôc hµnh vi, c¸ch øng xö, gi¸o dôc an toµn trªn ®­êng phè, b¶o vÖ m«i tr­êng hay gi¸o dôc lßng yªu hoµ b×nh.

KNS võa mang tÝnh c¸ nh©n võa mang tÝnh x· héi. KNS mang tÝnh c¸ nh©n v× ®ã lµ n¨ng lùc cña c¸ nh©n. KNS cßn mang tÝnh x· héi v× trong mçi mét giai ®o¹n ph¸t triÓn cña lÞch sö x· héi, ë mçi vïng miÒn l¹i ®ßi hái mçi c¸ nh©n cã nh÷ng KNS thÝch hîp. Ch¼ng h¹n: KNS cña mçi c¸ nh©n trong thêi bao cÊp kh¸c víi KNS cña c¸c c¸ nh©n trong c¬ chÕ thÞ tr­êng, trong giai ®o¹n héi nhËp; KNS cña ng­êi sèng ë miÒn nói kh¸c víi KNS cña ng­êi sèng ë vïng biÓn, KNS cña ng­êi sèng ë n«ng th«n kh¸c víi KNS cña ng­êi sèng ë thµnh phè, .... Nãi c¸ch kh¸c, kÜ n¨ng sèng cña mét ng­êi lµ kh¶ n¨ng øng xö theo nh÷ng c¸ch nhÊt ®Þnh trong mét m«i tr­êng cô thÓ phï hîp víi c¸c ®iÒu kiÖn vÒ kinh tÕ, x· héi, v¨n ho¸ mµ ng­êi ®ã ®ang sèng.

Lời giới thiệu

Chào các chị, các bạn,
 
Theo đề nghị của chị Nguyễn Thị Hồng Hoa, chuyên viên công tác xã hội - sức khỏe tâm thần đang làm việc cho UNIAP, tôi gửi theo e-mail này đến các chị và các bạn 3 links truy cập vào blog cá nhân của chị Hồng Hoa về những nội dung bài giảng liên quan đến kỹ năng công việc dành cho cán bộ xã hội đang tác nghiệp trợ giúp nạn nhân bị buôn bán và bị xâm hại tình dục trở về. Xin mọi người vui lòng nhấp chuột vào các đường dẫn dưới đây để tìm kiếm và tham khảo thông tin nhằm vận dụng tích cực vào công việc hiện nay của mình: 
 
 
Cảm ơn sự chia sẻ tận tình của chị Hồng Hoa và sự hợp tác tích cực của các chị và các bạn đang làm việc trong dự án của AAT-AFESIP hiện nay.

Thân mến,
--------------------------
Cao Minh Quyen (Mr.)
Programme Director in Vietnam
AFESIP/AAT - ALLIANCE ANTI TRAFIC
Add:   322/39, Nguyen Dinh Chieu St, Dist 3,  Ho Chi Minh City, Vietnam
OP:     (+84.8) 38 32 65 23  -  62 99 21 34
MP:     (+84) (0) 903 867 645
Skype: caominhquyen
Email: vnprojectdirector@allianceantitrafic.org
Website:  http://www.allianceantitrafic.org

Thursday, March 25, 2010

Wednesday, March 24, 2010

Bài học từ chú lừa

Ngày nọ, chú Lừa của người nông dân trượt chân rơi xuống một cái giếng. Con vật kêu khóc thảm thiết suốt vài giờ trong khi người nông dân cố gắng nghĩ ra ông phải làm gì.

Cuối cùng, ông quyết định rằng con vật đã già, còn cái giếng rồi cũng cần phải lấp;

Thật là không đáng phải cứu con cừu. Ông cho mời tất cả hàng xóm của mình đến giúp đỡ. Tất cả họ cầm lấy cái xẻng và bắt đầu xúc đất đổ vào cái giếng.

Đầu tiên, chú lừa nhận ra sự việc đang diễn ra và khóc lóc rất thảm thiết. Sau đó, trước sự ngạc nhiên của mọi người, nó trở nên yên lặng.

Sau một hồi đào đất, cuối cùng  người nông dân nhìn vào cái giếng. Ông thực sự kinh ngạc vì những điều ông nhìn thấy.

Với mỗi xẻng đất đổ xuống lưng chú cừu, nó lại làm một điều đáng ngạc nhiên. Nó lắc mình và bước lên đống đất. Cứ mỗi khi những hàng xóm của người nông dân tiếp tục đổ đất lên đầu con vật, nó lại lắc mình và bước lên.

Ít lâu sau, mọi người đều ngạc nhiên vì chú lừa đã bước qua thành giếng và đi lại một cách vui sướng.

Bài học:

•    Cuộc sống sẽ xúc đất lên người bạn, tất cả các loại bùn đất. Cách để thoát ra được khỏi cái giếng là lắc cho đất rơi xuống và bước lên đó.
•    Mỗi một khó khăn của chúng ta là một bàn đạp để tiến lên. Chúng ta có thể vượt ra khỏi những cái giếng sâu nhất chỉ bằng cách không dừng lại, và không bao giờ bỏ cuộc!
•    Hãy lắc mình và bước lên một bước.

Hãy nhớ 5 nguyên tắc đơn giản để được hạnh phúc:

1.    Để cho trái tim không còn hận thù – Hãy tha thứ
2.    Giải phóng cho tâm trí khỏi lo lắng – hầu hết những thứ không bao giờ xảy ra
3.    Sống đơn giản và trân trọng những gì bạn có.
4.    Hãy cho đi nhiều hơn.
5.    Chịu trách nhiệm về cuộc sống của bạn.

Saturday, March 20, 2010

Trang Liên Kết cho Đọt Chuối Non

Trang Liên Kết cho Đọt Chuối Non:
http://dotchuoinon.com/thong-tin-c%E1%BB%99ng-d%E1%BB%93ng/ Đọt Chuối Non dự đinh mở một Trang Liên Kết, đặt links nối đến các websites hữu ích cho mọi người. Nhưng có quá nhiều websites để lựa chọn, thành ra cách hay nhất là nhờ tất cả các bạn giới thiệu.
Hiện nay chúng ta muốn đặt trọng tâm vào các websites cộng đồng, tức là không phải websites cá nhân, và vào các sites về giáo dục, các tổ chức từ thiện, các sites thường có những thông tin về giáo dục, học bổng, và các thông tin hữu ích khác.
Nếu là website cá nhân, nhưng thông tin chính là thông tin hữu ích cho cộng đồng thì cũng tốt. Các websites nhiều cãi cọ hoặc nhiều tư duy tiêu cực quá thì không nên. Admins sẽ duyệt qua các giới thiệu và quyết định.
Có thể sẽ đặt tên “người giới thiệu” kế bên liên kết, nếu các bạn đồng ý.
Các bạn có thể email thông tin về dotchuoinon@gmail.com
“Lúc em ra chào đời, mẹ cho một trái tim để yêu…”
Lời nhắc nhớ trân trọng ấy của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu luôn khiến những tâm hồn chân thiện rung cảm mỗi khi ai đó cất lên câu hát. Một trái tim để yêu là điều ta mắc nợ mẹ cha từ thuở chào đời. Một trái tim để yêu chính là món quà đẹp nhất mà ta muốn trao lại cho con cái chúng ta. Một trái tim để yêu – đó là điểm giống nhau giữa tôi và bạn, dù chúng ta đến từ bất cứ nơi đâu. Một trái tim để yêu – đó chính là Một Tấm Lòng.
Chung Một Tấm Lòng nghĩa là chung một tấm chân tình, chung một bầu nhiệt huyết. Gửi gắm hết tâm tình trong cái tên giản dị này, những người thành lập nhóm muốn đóng góp chút thời gian và công sức mong làm được một điều gì đó thực sự có ích, để cuộc sống gia đình nói riêng và xã hội nói chung đậm thêm nhiều ý nghĩa. Chung Một Tấm Lòng luôn mong mỏi dang rộng vòng tay đến khắp nơi, tìm đến những cảnh nhà nghèo khó và những mảnh đời bất hạnh với mong muốn lau khô đi những buồn đau, tha thiết được san sẻ những ân tình, mong sao tất cả sẽ tìm được đến bến bờ yêu thương. Và quan trọng hơn là mong có thể trao gửi trái tim biết yêu thương ấy như một hành trang và vốn sống cho con cái của mình mai sau…Bởi chỉ những thế hệ biết thương yêu và cống hiến mới góp phần làm nên một xã hội công bằng và tốt đẹp.
Khởi từ ý nghĩ đó, vào năm 2004, các thành viên ban đầu là những bà mẹ trẻ đã tập hợp lại để cùng đi thăm và giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Đến tháng 3 năm 2009, nhóm Chung Một Tấm Lòng đã chính thức ra đời, dưới sự điều hành của chị Đoàn Xuân Hương – Manly và một số thành viên tích cực khác….Hoạt động chủ yếu của nhóm là tổ chức các chuyến đi thăm và tặng quà đến các nhà mở, bệnh viện, trung tâm trẻ mồ côi trong thành phố, các thôn bản nghèo dưới đồng bằng hay ở mãi tận miền núi trung du vào các dịp lễ, Tết Nguyên đán, ngày Thiếu nhi, tết Trung thu, Giáng sinh, …. Ngoài ra, nhóm còn tổ chức quyên góp trong thành viên để giúp đỡ những trường hợp bất hạnh nhưng không được rộng rãi cộng đồng biết đến. Ngân quỹ của nhóm Chung Một Tấm Lòng có được là nhờ sự đóng góp bằng tiền hay tặng vật của thành viên (sau đó sẽ được thanh lý hoặc đấu giá). Việc thu chi cho mỗi trường hợp đều dựa trên tiêu chí minh bạch và công khai. Mỗi trường hợp đều được lấy ý kiến, tổ chức quyên góp và quyết toán riêng và rõ ràng để mọi thành viên đều có thể theo dõi. Với sự hỗ trợ tích cực và nhiệt tình của thành viên, nhóm luôn đến tận nơi để xác minh hoàn cảnh và trao quà tận tay người cần giúp.
Từ tháng 1. 2010, Chung Một Tấm Lòng đã xây dựng một diễn đàn riêng cho nhóm, tự tin bước lên một bước tiến mới. Đã có nơi để chia sẻ tâm tình và gửi gắm niềm tin, chúng ta hãy cùng nhau nối chặt vòng tay nhé! Hãy cùng nhau đi đến những miền quê xa xôi ấy, đến với những đồng bào nghèo khó, bệnh tật, cô đơn. Hãy cùng nhau mang đến cho các bé thơ bất hạnh những vòng tay ôm ấm áp, bình yên. Hãy cùng nhau xây dựng nên một ngôi nhà đầy ắp những tiếng cười, đầy ắp tình yêu thương. Hãy chung tay cùng xây dựng một diễn đàn thật tốt đẹp, thật ý nghĩa sao cho xứng với tên Chung Một Tấm Lòng. Dù bạn là ai, dù bạn đến từ nơi đâu, bạn cũng có một trái tim để yêu và bạn luôn luôn được chào đón ở nơi này. Với Chung Một Tấm Lòng bất cứ đóng góp và chia sẻ nào của bạn cũng được ghi nhận và trân trọng: một món đồ cũ, một đồng xu tiết kiệm, một vài phút rảnh rang, và trên tất cả những điều đó chính là tấm lòng nhân ái của bạn. Chung Một Tấm Lòng được lập nên không chỉ để chia sẻ, không chỉ là giúp đỡ lúc khó khăn, cứu trợ khi ngặt nghèo, Chung Một Tấm Lòng ra đời là để thực sự yêu thương.
Chúc bạn và gia đình luôn luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc!

Sự đồng cảm là gì?



Đồng cảm là món quà quý giá mà chúng ta có thể trao cho những người bạn của mình khi chúng ta học cách nhìn bằng con mắt của người khác, hoặc cảm nhận bằng suy nghĩ của người khác, khi đó xung đột được giải quyết và tình yêu hiển lộ.

Đôi khi, một khoảnh khắc đẹp chỉ là suy nghĩ về một điều gì đó. Khi tôi đang ngồi trong một khu vườn vào một buổi chiều, có một cậu bé đang nắm tay người mẹ mang thai. Thay vì chạy đi chơi đu dây hay cầu tuột cùng những đứa trẻ khác, cậu ngồi sát bên mẹ, đặt một bàn tay lên bụng mẹ, và nói : “Anh biết bên trong đó chắc rất tối, và em muốn chui ra. Nhưng cần thêm một thời gian nữa. Anh đã mất 9 tháng. Anh chỉ muốn nói với em rằng, anh đang chờ em, và rằng anh hiểu em đang cảm thấy gì”. Hai từ kì diệu “Anh hiểu” vang lên trong tai tôi, và các câu hỏi tuôn ra. Thế nào là Đồng cảm? Làm thế nào để bạn đặt tay lên một ai đó, và nói những lời “Tôi hiểu”? Liệu có công cụ nào giúp tôi trở thành người đồng cảm hơn không? Câu trả lời đến từ nhiều góc độ.


Nguồn gốc của từ “đồng cảm” (empathy) có từ những năm 1880 khi nhà tâm lý học người Đức Thoedore Lipps đặt tên cho khái niệm “einfuhlung”, nghĩa là cảm-thấy-từ-bên-trong (in-feeling). Dada Vaswani, giám đốc của chương trình Sadhu Vaswani Mission, phân tích “Đồng cảm là quên đi bản thân mình trong niềm vui và nỗi buồn của người khác, nhiều đến mức mà bạn thực sự thấy rằng niềm vui hay nỗi buồn mà người khác đang trải qua cũng chính là niềm vui và nỗi buồn của bạn. Đồng cảm là sự gắn bó hoàn toàn với người khác”. Deepa Kodkal, một chuyên gia về tinh thần, nói “Đồng cảm là đặt mình vào vị trí của người khác để thực sự hiểu người đó đang nghĩ gì và trải qua điều gì trong một thời điểm nhất định. Về cơ bản đó là sự bắt sóng cùng tần số với ai đó”. Chồng của bà là Raja Kodikal cũng đồng ý, và nói thêm rằng đó là cảm giác hòa hợp với người khác, mà thông qua đó bạn có thể giúp đỡ họ giải quyết vấn đề của họ. Gandhi, một biểu tượng quốc gia về đồng cảm, cũng nói tương tự như vậy. Ông thường cầu nguyện hàng ngày với những lời như “Nếu tôi được tái sinh, tôi sẽ ước mình được sinh ra là một người dân hèn mọn để có thể chia sẻ với họ những đau buồn, chịu đựng, và sự lăng mạ nhằm vào họ, để tôi có thể cố gắng để giải phóng bản thân mình và họ khỏi sự đau khổ”.

Đồng cảm không là gì?

Các định nghĩa trong từ điển khó cắt nghĩa được sự khác nhau giữa đồng cảm (empathy), thương xót (pity), thông cảm (sympathy) và trắc ẩn (compassion), tuy vậy vẫn có sự khác biệt. Chandrika, tác giả của Atam Siddhi, giải thích “Khi một người cảm thấy được nỗi đau của người khác với tư cách là giữa một bề trên với bề dưới, hay là cảm thấy tiếc thương cho một hoàn cảnh mà một người không bao giờ tưởng tượng là mình sẽ gặp phải – thì đó là cảm giác của sự thương xót. Chúng ta thương xót một người mù vì chúng ta không biết mù là thế nào. Tuy nhiên, khi chúng ta nhấc họ lên, nhìn người khác ngang hàng với mình, và có thể tưởng tượng được bản thân chúng ta trong hoàn cảnh của họ, và cảm thấy có sự gắn kết mạnh mẽ với người đó, thì sự thương xót chuyển thành thông cảm. Tuy nhiên, khi chúng ta hòa mình vào những gì một người đang phải chịu đựng, và cảm nhận được nỗi đau; khi người đó cười, niềm vui cũng tràn ngập trong ta; khi người đó phấn khích, trái tim ta rộn rã sướng vui; đó là lúc chúng ta gần với cái gọi là đồng cảm”.

Lòng trắc ẩn là cảm thấy nỗi đau của người khác, và hành động để làm giảm bớt nó. Trắc ẩn có thể sinh ra từ sự đồng cảm – ví dụ, tôi động lòng thương người nghèo, và muốn giúp đỡ họ, nhưng tôi chưa bao giờ trải qua cảnh nghèo đói. Tôi bắt đầu bằng việc dạy trẻ ở khu ổ chuột tại nhà, và sau đó tôi dành thời gian cho một cô bé- người đã để dành cái bánh Cadbury suốt cả một tháng, và chỉ nhấm nháp mỗi ngày một tí ti, khi tôi gặp một cậu bé người đã mơ về một ngôi nhà trong đó mẹ cậu được làm người nội trợ, tôi sẽ hiểu rõ hơn về sự nghèo đói. Như thế đồng cảm là cảm xúc thấy “hòa nhập” hơn, bao gồm các bước nhìn thấy, kết nối, cảm nhận, và tiếp theo hành động.

Bước 1: Đừng cứng nhắc cố chấp

Phần lớn các chuyên gia về tinh thần đều đồng ý rằng bước đầu tiên của sự nhận thức đó là quên đi cái tôi của mình. Cái tôi theo định nghĩa là cảm giác sai lầm về bản thân (false sense of self). Khi có cái tôi thì đồng cảm không thể tồn tại. Một người mà quá ám ảnh về chính mình, về những cảm xúc của mình, những đánh giá của mình thì sẽ không có thời gian hiểu được những điều người khác đang trải qua. Bước đầu tiên để kết nối với người khác là bạn phải linh hoạt trong suy nghĩ của mình, và đừng cứng nhắc cố chấp.

Adita Jalan, một giáo viên của từ Kolkata, chia sẻ, “Một ngày, chồng tôi đi làm về sớm, và nói “Anh chịu hết nổi rồi, Anh sẽ không làm cho bố nữa, ông luôn làm anh chán nãn.Anh sẽ lấy số tiền anh đáng nhận được trong việc kinh doanh này và bắt đầu cái gì đó mới”. Chồng tôi là một người điềm tĩnh và có lòng trắc ẩn, người luôn đặt gia đình lên trên hết. Bố chồng tôi chắc hẳn đã làm tổn thương anh ấy ghê gớm. Lòng tràn ngập nỗi tức giận và thấy mình đúng, tôi quyết định chúng tôi phải tạo dựng một thế giới mới cho mình. Tôi đi ra và lấy cho anh một cốc nước, khi đó tôi nhìn thấy bố chồng đang ngồi trong phòng khách nước mắt lã chã. Đột nhiên mọi sự thay đổi. Tôi tự hỏi mình “Liệu một người cha có chủ ý làm tổn thương con trai mình? Liệu có bao giờ tôi chủ ý làm tổn thương con trai tôi, Aarav?”. Câu trả lời là một tiếng KHÔNG vang dội. Tôi nói với chồng mình, với tư cách như một người mẹ chứ không phải một người vợ, và vấn đề đã được giải quyết. Người cha và người con lần đầu tiên nói chuyện một cách cởi mở về những kì vọng của họ, và hôm nay, họ đã có được một sự gắn kết tuyệt vời. Nếu mà tôi đã để cái tôi của mình chế ngự, thì sự đồng cảm sẽ không bao giờ có được, và hôm nay tôi sẽ không thể nhìn thấy Aaray cưỡi lên lưng ông nó.



Bước 2: Thấu hiểu hoàn cảnh của người

Sự đồng cảm thực sự nảy sinh từ sự chia sẻ cùng nhau, hoặc chí ít là hiểu được trải nghiệm của người khác. Chỉ đi chiếc giày của người khác rồi lại bước chân ra ngay, chỉ nhìn thấy hoàn cảnh của người ta, mà không hòa nhập thì chưa đủ. Dù khó khăn đến mấy, thì cũng hãy cố gắng nhận biết thành thạo đôi giày, biết kích cỡ của nó, hiểu được cái cảm giác đó, hãy là người đó, và bạn sẽ hiểu được người đó đang trải qua điều gì, và thực sự đồng cảm với họ.

Jaggi Vasudev, người sáng lập tổ chức Coimbatore-based Isha Foundation, tham gia chỉ đạo các tình nguyện viên tham gia công tác cứu trợ nạn nhân sóng thần đã nói “Đừng đi vào các khu làng này như là một người ngoài cuộc hay khán giả. Sự mất mát của một người trong gia đình chúng ta có thể coi là một thảm họa. Và tương tự như vậy, sự mất mát một con người ở các gia đình khác cũng đau khổ không kém. Chúng ta phải hiểu được điều này. Khi chúng ta đi vào làng, hãy đi như bạn là người bạn hay họ hàng thân thiết nhất của người đã chết. Hãy vào đó với cảm xúc rằng tất cả 150,000 người đã chết là họ hàng thân thiết nhất của bạn. Hãy chứng tỏ rằng bạn đến với tình yêu và lòng trắc ẩn, như là anh em ruột rà”.
Dada Vaswani cũng chia sẻ một kinh nghiệm thú vị. Ông hồi tưởng lại “Một buổi sáng sớm, Gurudev Sadhu Vaswani dạy chúng tôi rằng trong thực tế, không có cái chết. Cái chết chỉ là một ảo giác. Chúng ta phải học cách vượt qua nó. Trong ngày hôm đó, ông đã mời đến bên một người mẹ già có đứa con một chết trong vụ đâm máy bay. Bà gạt những giọt nước mắt cay đắng. Mắt Sadhu Vaswani cũng đẫm lệ. Sau đó, tôi nói với ông “Buổi sáng nay thầy đã dạy chúng em rằng cái chết là một ảo giác. Vậy lý do thầy đã khóc là gì?”. Ông trả lời “Khi tôi ngồi bên cạnh người mẹ già, tôi cảm thấy tôi là người mẹ già đó”.

Mẹ Teresa, một hình mẫu của sự đồng cảm, nói về một khoảnh khắc đáng nhớ khi mẹ là kẻ không nhà. Mẹ nói “Khi tìm kiếm một ngôi nhà, tôi đi và đi cho đến khi chân và tay đau nhức. Tôi nghĩ bao nhiêu người nghèo cũng đau nhức trong thể xác, tâm hồn, đang tìm kiếm một ngôi nhà, thức ăn và sức khỏe”. Nhận thức có được từ kinh nghiệm và sự chia sẻ nỗi đau đã tạo ra cuộc cách mạng trong bà, và biến một nữ tu sĩ bình thường trở thành mẹ Teresa phi thường.

Raja Kodikal chia sẻ một kinh nghiệm hài hước trong cuộc đời mình. Một lần nọ, ông- một người cha đáng tự hào của bốn cô con gái, đi ra bờ biển Juhu, Mumbai, với vợ, bốn cô con gái và mấy đứa bạn của nó. Khi mười cô gái và ông đang đứng uống nước dừa, đột nhiên người thanh niên phục vụ khoét các quả dừa cười với ông vẻ đầy thông cảm và nói “Ho jayega, ho jayega, ladka bhi ho jayega” (tiếng Hindi, nghĩa là “Đừng lo, rồi ông sẽ có một đứa con trai thôi”-ND). Raja cười khúc khích khi nhớ lại khoảnh khắc đó, và nói ông không có ý định bảo anh chàng đó đã nhầm lẫn, vì ông thực sự xúc động và phấn khích bởi sự đồng cảm của anh ta.

Tôi có một em họ 17 tuổi, bị một khuyết tật về mắt ở tuổi 13, và cậu đã dần dần mất đi thị lực kể từ đó. Hôm nay, cậu đã bị mù đến 95% . Tình trạng đó không thể cứu vãn, và ít nhất là cho đến bây giờ, các bác sĩ cũng không có cách nào. Là một anh chàng rất quả quyết, cậu thường nói với mọi người “Cách mà tôi nhìn sự việc đó, chỉ là một phần cơ thể tôi không hoạt động – thế còn hàng trăm các bộ phận khác đang hoạt động rất hoàn hảo thì sao?”. Cậu không bao giờ cho phép bố mẹ mình cảm thấy là họ có một đứa con tật nguyền. Tuy vậy, là một người bạn tâm tình, tôi đã cố gắng lắng nghe những khó khăn – những người bạn nghĩ cậu đang gây sự chú ý bằng nỗi khổ của mình; cô gái mà cậu thích tỏ ra thương xót cậu, nhưng không bao giờ xem cậu là một người bạn trai, và tất nhiên, cũng không thể hiểu được cái cảm giác bị mù sau 13 năm nhìn thấy cái đẹp của cuộc sống.

Cảnh ngộ của cậu động lòng tôi, nhưng không thực sự sâu đậm lắm, và tôi thường bận rộn với cuộc sống nên quên giữ liên lạc với cậu. Một buổi tối đã thay đổi mọi thứ. Một ý tưởng chợt nảy ra, tôi quyết định nhắm mắt, và thử bị mù. Bóng tối bao trùm. Một hành động đơn giản như đi bộ bỗng trở nên khủng khiếp. Mỗi một suy nghĩ, một tiếng thở, như thành cực đại. Những khuôn mặt, hình ảnh đã quen tan biến vào bóng tối. Chỉ 10 phút sau, tôi mở mắt ra và uống lấy những hình ảnh một cách đầy thèm khát như là kẻ hành hương trên sa mạc tình cờ nhìn thấy một cái giếng uống nước vậy. Tôi đã gọi cho cậu ấy, và chúng tôi nói chuyện, cậu bảo tôi “Này chị, một ngày nào đó em chắc là em sẽ tìm được một cô gái tuyệt vời. Khi đó, tình yêu là không còn nhìn thấy gì nữa” (Love is blind). Tôi đã khóc.

Bước 3: Nhớ trở lại là mình

Bước cuối cùng thường bị nhiều người lãng quên. Những người đồng cảm nhất trong số chúng ta thường hòa nhập vào cảnh ngộ người khác, và không thoát ra được. Hiểu được nỗi đau của người khác như thế nào là quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa là bạn phải sống chính hoàn cảnh của mình. Bạn cần phải hiểu được nỗi đau khổ của người, nguyên nhân của nó, và giúp đỡ họ trong khi vẫn giữ được sự bình tĩnh. Hơn nữa, sự đồng cảm sẽ đưa đến hai con người đau khổ, thay vì một. Ý tưởng về sự đồng cảm nghĩa là hiểu biết vì thế mà bạn có thể nâng đỡ họ lên, và cũng không khiến mình bị sa lầy.

Shraddha Mittal là một cô gái 23 tuổi có mẹ bị chẩn đoán ung thư tử cung. Mặc dù việc điều trị đã xong cách đây mấy năm, và mẹ cô hiện tại khỏe mạnh, Shraddha đã bị tác động rất mạnh bởi căn bệnh này và quyết định tình nguyện cho một tổ chức phi chính phủ về ung thư gọi là Helping Hands tại bệnh viện Jaslok, ở Mumbai, giúp đem lại hi vọng cho bệnh nhân ung thư. Trong suốt tháng đầu tiên, cô thường trở về nhà và khóc. Nhìn những người bệnh nhân khác, cô đã nhớ đến mẹ mình. Mỗi lần một người không sống sót được trong cuộc chiến chống lại ung thư, lòng cô tràn một nỗi sợ hãi về sự bình phục của mẹ.Nhiều lúc cô đã định bỏ cuộc. Nhưng cuối cùng cô đã quyết định tiếp tục. Cô nói “Hôm nay là một năm kể từ khi tôi gia nhập tổ chức, và tôi hiểu tôi đã tạo nên một sự khác biệt nào đó – cho bệnh nhân và bản thân tôi. Tôi nhận ra rằng tôi cần phải gắn-tách, kết nối-tháo bỏ. Khi tôi nói chuyện với một người bệnh nhân, tôi nói như là tôi hiểu chính xác nó thế nào, tuy nhiên khi đi ra khỏi phòng, tôi tạo ra một khoảng cách giữa người bệnh và tôi bằng cách nói “Cô ấy bị ung thư trở lại không có nghĩa là mẹ tôi cũng thế. Mẹ tôi đang rất khỏe”. Một câu đơn giản, nhưng tại thời điểm đó, nó thực sự đã tạo nên sự khác biệt lớn”.

Và hơn nữa:

- Lắng nghe: các nhà tâm lý học trên thế giới đồng ý rằng phần lớn mọi người không yêu cầu giải pháp hay lời khuyên. Một khi họ có được cơ hội để nói chuyện, và được thấu hiểu, một nửa vấn đề đã được giải quyết. Ruchita Mehra, nhà tư vấn tại bệnh viện Jaslok, Mumbai, nói “Hai thứ quan trọng nhất mà bệnh nhân cần là đôi tai! Vâng, đôi tai! Một khi bạn cho phép họ nói, và tỏ ra bạn hiểu họ đang cảm thấy gì, và điều đó là tự nhiên, một nửa căn bệnh đã biến mất”. Quả thực, để lắng nghe người khác, người ta cần phải phát triển kĩ năng nghe tích cực để hiểu được những điều mà người khác đang nói, và vâng, cũng là những điều mà người đó không nói!

- Hiểu chính mình: Bà Kodikal nói “Mục tiêu của bất cứ sự thực hành tinh thần nào, dù là thiền hay yoga đều là tạo ra nhận thức trong bạn, vì thế loại bỏ tất cả những điều tiêu cực, và tăng cường tất cả những gì tốt bên trong”. Khi chúng ta sống có nhận thức, chúng ta sẽ cảm thấy nỗi đau của người khác qua trực giác, và biết làm thế nào để xoa dịu nó. Đồng cảm trở thành một phần của con người bạn.

- Yêu vô điều kiện: Dada Vaswani nói “Tăng trưởng trong tinh thần cho đi. Cho đi, cho đi và cho đi không bao giờ chán. Cho đi và không lưu giữ gì, không nhớ những gì đã cho đi. Cho đi và quên tất cả. Cho đi trong tình yêu: cho đi trong sự tôn kính. Bạn không chỉ một lần không đáp lại tiếng gọi của nỗi đau con người. Đó là cách bạn sẽ tăng trưởng trong sự đồng cảm’.

- Tất cả là một: Sự đồng cảm là một quá trình phát triển. Raja Kodidak nói rằng chỉ khi chúng ta đồng cảm với bản thân, khi chúng ta chấp nhận và yêu bản thân mình, cả tốt lẫn xấu, thì chúng ta mới có thể trở nên đồng cảm với người khác. Chandrika cũng nói thêm rằng một giai đoạn bắt đầu là khi một người bắt đầu nhận thức được bản chất đồng cảm không thể tách rời của mình và nó xảy ra khi có sự nhận thức rõ rằng không có sự khác biệt cá nhân nào như “anh” và “tôi”. Ở giai đoạn phát triển đó, một cá nhân hiểu rằng cái quan trọng là tâm hồn, và tất cả tâm hồn là sự phản chiếu của Một Thức, không hơn, không kém. Bà nói thêm rằng sự đồng cảm là nguyên tắc cơ bản của triết học nhất nguyên (advaita) do Adi Sankara khởi xướng. Ông nói “Chúa và bạn không phải là hai, Chúa và bạn là một”. Rằng vì sao một pháp sư thuộc chủ nghĩa thần bí nói rằng khi Chúa muốn trốn ở một nơi mà không mắt người nào nhìn thấy được, Ngài sẽ trốn ở trong trái tim con người vì thế mà Ngài có thể nhìn qua được mắt, nghĩ bằng cái đầu, và cảm nhận được trái tim của người đó. Đó là lý do vì sao, người ta đã thấy nữ thần Radha hát và nhảy múa ở Vrindavan (thánh địa của đạo Hindu, Ấn độ) sau khi thần Krishna đã đi Mathura, Radha đã nói “Tại sao tôi phải cảm thấy buồn? Bởi vì Krishna đã rời bỏ tôi ư? Nhưng điều đó không đúng! Krishna không bao giờ có thể bỏ tôi. Vì bạn không thấy được, giữa Krishna và tôi, và tôi và Krishna, không có sự khác biệt nào?”

Hãy để nhà thơ John Donne nói lời cuối cùng:

Không ai là một hòn đảo
Hoàn toàn chỉ riêng mình
Mỗi người là một phần lục địa
Một mảnh của đại dương.
………
Mỗi cái chết đều khiến tôi hao hụt
Bởi tôi là một của loài người.

(Chuông Nguyện Hồn Ai)

Hoàng Khánh Hòa dịch