Xem xét lại Việc tái Hòa nhập-

Các nạn nhân trở về họ thật sự cần gì và muốn gì?
Các bài học rút ra từ các chương trình tái hòa nhập ở Châu Á, đặc biệt, các cuộc phỏng vấn sâu với các nạn nhân người Thái lan và Phi líp pin trở về từ các vụ buôn bán người bên trong và ngoài châu Á ; n=59 (Số người được phỏng vấn là 59 người)
Tóm tắt : Các nạn nhân người Thái Lan và Phi líp Pin tự trở về hoặc được trở về có sự trợ giúp từ các vụ buôn bán người đã cung cấp thông tin về các nhu cầu thực, các thách thức và các mong ước thực của họ, và sự hỗ trợ tái hòa nhập mà họ nhận được đã giúp họ hay cản trở sự hồi phục của họ như thế nào. .
Tác giả Ngài Anders Lisborg,Dựa theo Báo cáo nghiên cứu 2009 sắp ấn hành của Tổ chưc Lao động Quốc tế (ILO) về các chương trình tái hòa nhập ở Châu Á.
Trong những năm gần đây có sự gia tăng các chương trình và các cơ quan bảo vệ để hỗ trợ các nạn nhân của các vụ buôn bán người trên toàn thế giới.Tuy nhiên sự gia tăng này không phải lúc nào cũng đi kèm với chất lượng chăm sóc và các dịch vụ, đặc biệt trong lĩnh vực hội nhập dài hạn dựa vào cộng đồng và tiến tới hội nhập thực sự vào đời sống thực.
Trong một vài trường hợp, các chương trình tái hòa nhập đã dẫn tới tác động hạn chế hoặc không thật sự tích cực đố với các nạn nhân trở về; Trong một vài trường hợp xấu nhất, các chương trình hỗ trợ được thiết kế chưa tốt đã thật sự gây tổn hại cho họ hơn là giúp đỡ họ. Các trường hợp được ghi nhận trong các tài liệu cho thấy nạn nhân trở về bị ràng buộc quá chặt chẽ trong các điều kiện khắt khe, và điều này đã hạn chế tính tự chủ và tự do của họ hơn là cải thiện việc này. Có một vài trường hợp sự trừng phạt về thể xác và tinh thần được áp dụng nhằm đưa họ vào khuôn khổ, và có rất nhiều ví dụ mà trong đó sự giáo dục và các kỹ năng đào tạo được áp dụng là không phù hợp—khiến tiêu phí thời gian của họ mà đáng lẽ ra việc này phải giúp họ tìm được công việc phù hợp và có cuộc sống ổn định.¹ Sau nhiều năm triển khai chương trình hổ trợ các nạn nhân trở về, đã đến lúc cần đánh giá xem chương trình nào phù hợp, chương trình nào chưa và các cách thức tiếp theo để cung cấp các sự hỗ trợ hiệu quả. Báo cáo này tóm tắt các bài học rút ra từ các chương trình tái hòa nhập ở Châu Á, This report summarises lessons learned from reintegration programs in Asia, đặc biệt các phát kiến chủ chốt của công trình nghiên cứu gần đây dựa trên các cuộc phỏng vấn sâu có chất lượng với 59 nạn nhân trở về từ các cuộc buôn bán người vì tình dục và lao động ở Thái Lan và Phi líp pin¹.
Thông tin thu thập được từ các nạn nhân trở về từ các vụ buôn bán người - về những gì cá nhân họ đã trải qua, phản hồi của họ về sự hỗ trợ tái hòa nhập mà họ nhận được, những mối lo chính và nhu cầu chính của họ khi trở về, và các đề xuất của họ nhằm cải thiện chất lượng và hiệu quả của sự hỗ trợ tái hòa nhập – đã cho thấy 5 bài học chính cần được rút ra . Mấu chốt của việc trao quyền cho nạn nhân là họ cần được thông tin về các lựa chọn khả thi về kinh tế khi họ đã sẵn sàng làm điều này, bao gồm cả các nạn nhân chưa được xác định rõ ràng. Việc trao quyền và được cung cấp thông tin về các lựa chọn được nhìn nhận như là bước cần thiết đầu tiên để các nạn nhân trở về kiểm soát được chính cuộc sống của họ.
Những điểm chính: Chương trình (tái) hòa nhập của bạn có bao gồm các yếu tố sau đây mà các nạn nhân thường cần và muốn hay không?
Sự hỗ trợ linh hoạt và cá thể hóa,Với các nạn nhân là người trưởng thành có quyền được thông tin về các sự lựa chọn –Đây là cách tiếp cận dựa vào quyền.
Sự trao quyền về mặt kinh tế , với các kỹ năng được đào tạo họ phải có mối liên hệ rõ ràng và trực tiếp với khu vực kinh tế tư nhân – chứ không phải đào tạo chỉ để mà đào tạo.
Tái di cư an toàn và đúng luật như một chiến lược sống thay thế: tái hòa nhập không nhất thiết có nghia là trở về nhà; nó không phải là cơ hội an toàn và khả thi đối với một số nạn nhân trở về.
Cần tích cực hơn trong dự báo tại các điểm nóng và các điểm kiểm soát nhập cư, để xác định các nạn nhân trở về không chính thức, những người mà trước đó chưa từng được xác nhận là nạn nhân của tệ nạn buôn người hay chưa hề nhận được dịch vụ hỗ trợ nào.
Các nhà cung cấp dịch vụ sẵn sàng giúp đỡ khi những người trở về sẵn sàng nhận sự hỗ trợ . Các nạn nhân trở về có thể không đòi hỏi những dịch vụ này ngay lập tức.
Nạn nhân của các vụ buôn bán người trở về từ vô số các tình huống khác nhau, và tùy thuộc vào cách thức mà họ bị khai thác, tuổi tác của họ, giới tính của họ, đặc thù văn hóa, cá tính, và nhiều yếu tố khác – mỗi một cá thể có thể đơn giản có phản ứng khác nhau đối với sự hỗ trợ mà anh ấy hay chị ấy nhận được. Như một nạn nhân là một phụ nữ Thái lan nói: “mỗi người đều có hoàn cảnh khác nhau, nhưng tất cả mọi người đều từng có cuộc sống khó khăn”2. Một số người trở về tự chủ được, một số khác thì không, một vài người có tiền tiết kiệm, một vài người khác thì không, một số người có tinh thần mạnh mẽ và năng động, một số khác thì vẫn còn yếu đối và dễ bị tổn thương. Bài học rút ra khi làm việc với các nạn nhân trở về là các chương trình hỗ trợ được thiết kế sẵn và phổ quát cho tất cả mọi người thường dẫn tới tình trạng hoặc những người trở về từ chối sự hỗ trợ hoặc buông xuôi vì họ cảm thấy sự hỗ trợ đó không phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của họ.
Cá thể hóa sự hỗ trợ nên triển khai ngay từ đầu vì mỗi nạn nhân trở về đều có những nhu cầu và mối quan tâm rất cụ thể, họ cũng có những mặt mạnh và những nguồn lực cũng như các động lực rất đặc thù của mình. Thông tin này cần phải được xác định, phân loại để đưa ra loại hình hỗ trợ cho phù hợp (chứ không phải thu thập dữ liệu chỉ để mà thu thập). Các nhà cung cấp dịch vụ sẽ đáp ứng được các nhu cầu hỗ trợ đã được cá thể hóa một cách tốt nhất khi họ năng động linh hoạt và được chuẩn bị để đáp ứng các nhu cầu khác nhau và các tình huống khác nhau thông qua một hệ thống tham chiếu rộng được đảm bảo, nghĩa là họ phải thiết lập được các mối liên kết chặt chẽ với các nhà cung cấp dịch vụ khác, các cơ quan chính quyền địa phương, và khu vực kinh tế tư nhân.
Các chương tình bảo vệ nạn nhân dựa vào quyền thành công tôn trọng quyền tự đưa ra quyết định của chính mình của các nạn nhân là người đã trưởng thành. Nhiều người lao động di cư họ phải di cư vì lý do kinh tế, và nhiều người trong số họ đã trở thành nạn nhân của tệ buôn bán người và kết cục họ trở về nhà với hai bàn tay trắng, với khoản tiền tiết kiệm ít ỏi không đủ chi tiêu hay thậm chí còn rơi vào tình trạng nợ nần. Một số người trở về bị rơi vào tình trạng căng thẳng triền miên do các thành viên khác trong gia đình kiếm được nhiều tiền hơn do có công việc ổn định hay được hỗ trợ thay thế mức sống. Do đó mặc dù sự hỗ trợ được triển khai, bao gồm cả việc tư vấn gia đình và lập kế hoạch tài chính vẫn cần lường trước và tôn trọng một thực tế là một số nạn nhân sẽ lựa chọn việc đi làm cho các khu vực kinh tế không chính thức, ngay tại địa phương hay ở nước ngoài. Thay vì từ chối những người hồi hương quyết định đi làm cho các cơ sở kinh tế không chính thức nhằm thoát khỏi áp lực kinh tế xã hội và kiếm nhiều tiền hơn, thì một điều quan trọng là cần phải tôn trọng quyền của các nạn nhân được đưa ra các quyết định của chính họ. Các dự định và mong ước của những người hồi hương cho tương lai của họ, bất kể là khu vực kinh tế nào họ lựa chọn để làm việc, hay cho dù họ ở nhà hoặc quyết định tái di cư cũng cần được tôn trọng. Các nhân viên hoạt động xã hội và các nhóm hỗ trợ đồng đẳng nên duy trì liên lác với các nạn nhân tái di cư kiểu này và tiếp tục cung cấp cho họ các hình thức hỗ trợ khác, thậm chí nếu nạn nhân này lúc đầu đã từ chối sự hỗ trợ yếu tố xô đẩy người ta di cư thường lại là những thách thức chính khi họ trở về. Những người hồi hương Thái Lan và Philippin khi được phỏng vấn thường cho rằng điều quan trọng là phản nhận ra các yếu tố đã là động lực thúc đẩy họ di cư, như là trách nhiệm với gia đình, nhu cầu kinh tế và sức ép nợ nần, thiếu sự lựa chọ phù hợp về công ăn việc làm, và niềm ao ước có được vị thế xã hội, sự tôn trọng mà chỉ có thể đạt được nếu họ giàu có, sung túc. Những yếu tố này cũng chính là những yếu tố gây căng thẳng nhất cho một phụ nữ sau khi trở về. Những phụ nữ từng là nạn nhân bị bán ra nước ngoài để lao động nói rằng bất chấp những tổn thương mà họ phải chịu đựng, mối quan tâm lớn nhất khi họ trở về là sự ủng hộ của các thành viên trong gia đình, có việc làm đem lại thu nhập ổn định, và có đủ tiền để không phải lo lắng về nợ nần. Trên thực tế, một vài công trình nghiên cứu cho thấy các nạn nhân hồi hương của tệ buôn người thường chú trọng vào các cơ hội cuộc sống tương lai và các sự độc lập về mặt kinh tế hơn là đào sâu vào những sự tổn thương mà họ phải chịu đựng hay mong ước quay trở lại những điều mà họ từng gặp trước khi di cư.¹ Hầu hết những người hồi hương Thái Lan và Philippin nói rằng điều mà họ lo lắng trước tiên và nhiều nhất là sự nợ nần và không đủ tiền tiết kiệm, và điều lo lắng thứ hai là phản ứng kì thị của cộng đồng. Thú vị là mối quan tâm của họ về việc bị kì thị trong cộng đồng khiến họ sợ hãi khi quay trở về còn hơn cả việc thất bại về mặt kinh tế ở nước ngoài. Như hai người hồi hương Philippin đã miêu tả về điều này như sau.
“Tôi không thể chấp nhận 1 thực tế là khi tôi trở về nhà mà không có tiền.Tôi đã là 1 kẻ thất bại. Tôi đã không thể gửi bất cứ thức gì cho gia đình và con trai tôi…”
“Tôi đã không thể chấp nhận 1 thực tế là tôi đã không thành công ở Dubai. Tôi thậm chí đã không có 1 đồng xu nào. Tôi đã trở về nhà ở Philippin như 1 kẻ chiến bại…”
Những người phụ nữ Thái Lan hồi hương cũng giải thích rằng họ có những mối lo tương tự, đặc biệt là sự kì thị liên quan đến công việc tình dục họ đã làm ở nước ngoài luôn đè nặng lên vai họ khi họ trở về nhà mà không có tiền.
“Nếu tôi có tiền mang về thì những người ở làng có thể sẽ thay đổi cái cách họ ứng xử với tôi trước đây …họ đã không phê phán tôi. Đáng lý ra tôi phải giống như 1 cái kẹo để cho họ ngửi, nhưng tôi lại trở thành sự rắc rối đối với họ và họ vẫn có thể nói là tôi thơm như 1 cái kẹo nếu như tôi có tiền…”
Đào tạo các kĩ năng có chất lượng và sự kết nối với khu vực kinh tế tư nhân. Mặc dù rất nhiều người hồi hương muốn làm việc để nâng cao mức sống của họ, họ thường chỉ có được những kĩ năng không đáp ứng được thị trường lao động và khi quay về họ phải đối mặt với sự thiếu hụt cơ hội để nhận được 1 công việc khả dĩ cái mà từng là độc lực xô đẩy họ tìm kiếm công việc ở nước ngoài. Do đó, kĩ năng làm việc có chất lượng và dạy nghề chính là thành tố quan trọng để hội nhập thành công và điều này cần phải giúp họ kiếm được việc làm và độc lập về mặt kinh tế. Tuy nhiên, các khóa đào tạo nghề mà các nhà cung cấp dịch vụ đưa ra cho họ thường rất hạn chế cả về thời gian đào tạo lẫn chất lượng đào tạo và tính phù hợp đối với các thị trường lao động ở địa phương, cho dù các ý định là rất tốt. Thường thì các kĩ năng được đạo tạo không giúp họ có cơ hội tìm việc làm mới hoặc cải thiện đời sống lâu dài cho người hồi hương và những người phụ thuộc vào họ.
Để cải thiện chất lượng dạy nghề và khiến cho việc này trở nên năng động và thú vị hơn đối với người hồi hương, cần phải chuyển sang các mô hình đào tạo tại gia truyền thống của các tổ chức PCP và thiết lập sự kết nối chặt chẽ hơn với khu vực kinh tế tư nhân và các chương trình dạy nghề cần phải thiết thực hơn. Cũng cần phải đảm bảo rằng sau khi học nghề xong họ có việc làm, do đó mà thời gian đào tạo nghề không bị phí hoài. Sự hợp tác với khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các tổ chức của chủ lao động, các hiệp hội kinh doanh, và các phòng thương mại địa phương có thể cải thiện việc tạo công ăn việc làm cho những người hồi hương có tay nghề. Các hợp đồng học việc, hỗ trợ tiền công, tiền lương, và các chương trình hợp tác trách nhiệm xã hội tất cả đều có thể được sử dụng để xây dựng quỹ tiền thưởng giữa các chủ lao động nhầm tạo công ăn việc làm cho những người hồi hương có tay nghề và đã qua đào tạo
Tái di cư an toàn và hợp pháp như là một chiến lược sinh sống thay thế
Tái hòa nhập không nhất thiết phải về “về nhà”. Nhiều nạn nhân trở về sau khi bị buôn bán đã di cư lại để làm việc và tạo thu nhập cao hơn ở nước ngoài so với những gì có thể cơ tại “quê nhà”. Chỉ một số ít người Philippin được phỏng vấn trong cuộc điều tra này cho rằng việc quay về là tốt cho họ; trong các cuộc điều tra khác đối với các nạn nhân người Miến Điện và người Phillipin, hơn 70% các nạn nhân buôn người được trả về nước đã quyết định tái di cư, thậm chí sau khi nhận được các hỗ trợ từ các chương trình tái hòa nhập quê hương quy ước. Nhiều người trong số họ khi muốn tái di cư cảm thấy rằng trong chuyến đi tới họ sẽ được chuẩn bị tốt hơn để đối mặt với các nguy hiểm, và như vậy sẽ có thể tự bảo vệ cũng như tìm kiếm công việc tốt hơn. Trong khi việc dành các hỗ trợ về tài chính quyền kinh tế hợp pháp tại quê của người được trả về nước là rất quan trọng, việc dành các hỗ trợ cho người được trả về mà thực tế có thể sẽ tái di cư cũng quan trọng không kém.
Kết quả lý tưởng khi nạn nhân buôn người có thể trở về quê nhà với gia đình và cộng đồng và sống cuộc sống no đủ không phải lúc nào cũng thiết thực. Nhiều nạn nhân buôn người và bóc lột lao động cảm thấy do dự hoặc không hài lòng về việc trở về nhà. Đối với một số người, trở về nhà chỉ được coi là lựa chọn cuối cùng, thực hiện chỉ khi các điều kiện không thể trụ lại dược hoặc khi sự trục xuất là không thể tránh khỏi. Quay trở về nhà nhất định là giải pháp và lựa chọn tốt nhất cho một số người di cư; tuy nhiên, nhiều người không thể về nhà vì:
· Họ không được chấp nhận;
· Điều đó nguy hiểm đối với họ (xung đột, bị buôn bán lại);
· Họ cần sự trị liệu y tế hoặc tâm lý mà quê nhà không có; hoặc
· Họ đơn giản không có gia đình hoặc cộng đồng để quay về.
Điều này có nghĩa là nhiều người khi trở về nước phải hòa nhập vào các cộng đồng hơn là quê gốc của họ, vì vậy yêu cầu có các lựa chọn thay thế cho sự tái hòa nhập truyền thống. Ví dụ như, những người trở về nước tại các vùng nông thôn, mà đã sống và làm việc tại các thành phố trong một vài năm có thể thích hợp hơn với sự hòa nhập đô thị. Họ có thể cảm thấy ít bị phê phán hơn là ở quê nhà, và họ có thể cảm thấy rõ ràng là tại khu vực đô thị, sẽ có nhiều lựa chọn sinh sống và làm việc hơn.
Một phương pháp hòa nhập thay thế khác có thể được xem xét là phương pháp hòa nhập dựa trên điểm đến nếu khả thi. Những người sống sót sau khi bị buôn bán thích hợp cả về thể chất lẫn tinh thần và có thể sống hợp pháp tại quốc gia/vùng đến nên được hưởng các hỗ trợ và trợ giúp ban đầu để có được các giấy phép lao động cần thiết và tìm các công việc tử tế tại các khu vực làm việc không bị bóc lột. Đây đôi khi là lựa chọn thích hợp hơn cho nhiều nạn nhân buôn người, khi mà ở lại ddieemer đến với một công việc mới sẽ giúp họ hướng tới quyền kinh tế hợp pháp nhanh hơn, như được mô tả bởi một phụ nữ Phillipin dưới đây. Sauk hi trốn thoát khỏi bị bóc lột tại Brunei, cô vẫn không muốn trở về Phillipin, mà thay vào đó muốn thử cố gắng lại để có thể cải thiện tình hình tài chính của mình trước khi về nhà:
“Nếu chúng tôi chỉ cần có cơ hội làm việc tại đó (Brunei) trong sáu tháng, chúng tôi sẽ có thể tiết kiệm được một ít tiền. Nhưng đã không có kết quả gì. Không chỉ phải trở về, chúng tôi còn có những khoản nợ phải trả…”
Mặc dù phương pháp hòa nhập dựa trên điểm đến có vẻ là một thách thực về chính trị, trong nhiều trường hợp nó sẽ rất hiệu quả về kinh tế. Ví dụ, nếu người lao động di cư tại Nhà máy B bị bóc lột và xác định là nạn nhân buôn người, sau khi được sàng lọc và cung cấp các bảo vệ và dịch vụ cần thiết, một số người có thể được đề nghị một công việc mới tử tế tại Nhà máy A, nơi đang cần sử dụng người lao động di cư. Hình thức hòa nhập dựa trên điểm đến này nên được xem xét như một phương pháp thay thế cho việc dành thời gian và của cải để gửi nạn nhân tới các nơi ở tạm, hỗ trợ họ trong suốt những tháng hay những năm ở đó trước khi trả tiền để gửi họ về quê nhà, nơi mà sau đó nhiều người có thể sẽ lại tái di cư.
Hướng ra ngoài các điểm nóng/khu vực quay về nước một cách tích cực có thể giúp nhận biết những nạn nhận không chính thức hoặc chưa được nhận dạng của nạn buôn người
Đa số nạn nhân buôn người không được nhận dạng tại các điểm đến hoặc tham gia vào các chương trình trở về nước và tái hòa nhập chính thức. Thay vào đó, họ trở về nước lặng lẽ, như là những “người tự quay về”. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ không cần có sự hỗ trợ. Thường là, họ chỉ đơn giản là chưa được biết về các hỗ trợ hiện có, và họ đã tự cố gắng một mình để đối mặt với các khó khăn khi về nước. Trong nghiên cứu của ILO về Thái Lan và Phillipin, một số người tự quay về người Thái Lan phê phán các nhà cung cấp dịch vụ đã không hướng tới những người tự quay về và quảng bá để các hỗ trợ của họ được biết đến rộng rãi hơn. Một số người phụ nữ đã phải cố gắng nhiều năm trời sau khi trở về nước trước khi có được bất kỳ ý tưởng nào về việc họ có thể đủ tư cách để được hỗ trợ. Một người tự trở về Thái Lan đã phản ánh những kinh nghiệm khắc nghiệt của bản thân:
“Tất cả các cơ quan chính phủ và nhóm phát triển cần phải tìm kiếm và giúp đỡ những người phụ nữ vừa trở về nhà. Bởi vì, nếu những phụ nữ đó không có sự lựa chọn, họ sẽ lại bị các đại lý dụ dỗ để ra đi lần nữa… nếu tôi được ai đó giúp đỡ khi lần đầu quay trở lại từ Nhật Bản, nếu tôi có công việc để làm (tại quê hương), tôi sẽ không quay trở lại Đài Loan hai lần, rồi sau đó trở về quê nhà và cố gắng tự vãn…”
Cần có các nỗ lực nhằm tạo được sự hiểu biết cho những người trở về về các khả năng hỗ trợ tại các cộng đồng điểm nóng tại địa phương, và hướng tới được những người trở về mà vẫn còn đối mặt với các thách thức tái hòa nhập. Một ví dụ của sự cần thiết hỗ trợ những nạn nhân buôn người tự trở về đã dduwwojc làm rõ trong quá trình thảo luận nhóm tập trung (FGDs) với các nạn nhân trở về từ các làng khác nhau tại miền Bắc Thái Lan. Tất cả những người tham gia FGD đều đề cập rằng mỗi người trong số họ đều biết rằng một vài nạn nhân tự trở về khác chưa bao giờ được hưởng hỗ trợ. Trong một phác thảo thô về khu vực địa phương, những người tham gia FGD dự đoán có hàng trăm phụ nữ đã tự trở lại sau khi bị buôn bán. Điều này cho thấy số lượng nạn nhân buôn người được xác định chính thức và hưởng hỗ trợ có vẻ như chỉ là phần nổi của tảng băng – một giả thuyết đồng thời được hỗ trợ bởi thực tế là số lượng nạn nhân nhận được các hỗ trợ khi trở về và tái hòa nhập chỉ là một phần nhỏ của số lượng nạn nhân được dự đoán chung ở cấp độ toàn cầu.
Để hướng tới được những người tự trở về, cần phải xem xét lại chiến lược xác định nạn nhân quy ước và áp dụng các phương pháp tích cực hơn để hướng tới, ví dụ như thông qua việc thành lập các mạng lưới theo dõi/hỗ trợ cộng đồng tại các cộng đồng nóng, hoặc thông qua việc hướng tới và cung cấp dịch vụ xuyên suốt quãng đường và các điểm trung chuyển được nạn nhân tự trở về sử dụng (ví dụ như các kênh trục xuất và điểm kiểm soát nhập cư). Một chiến lược liên quan khác là xâm nhập vào mạng lưới xã hội của người di cư. Một điều được biết đến rộng rãi là người di cư dựa rất nhiều vào các mạng lưới xã hội tại giai đoạn ngoại di cư, và điều này cũng có thể được sử dụng cho giai đoạn trở về. Trên thực tế, những thành viên hiện có của một nhóm hỗ trợ có thể giúp truyền bá thông tin về hỗ trợ hiện có tại các khu vực địa phương của họ và mời những nạn nhân trở về khác tới các hoạt động và cuộc họp tái hòa nhập, những người mà không thể xác định được.
Các nhà cung cấp dịch vụ cần luôn sẵn sàng cung cấp hoặc giới thiệu các dịch vụ khi người trở về sẵn sàng nhận sự hỗ trợ
Nhiều nạn nhân buôn người mới trở về từ nước ngoài (cả chính thức và không chính thức) từ chối được hỗ trợ và ban đầu thích tự giải quyết vấn đề của mình. Họ cảm thấy bị lấn át và ngờ vực về các hỗ trợ được đưa ra, và cảm thấy tự tin rằng họ có thể giải quyết được các thách thức. Nhiều phụ nữ Thái Lan trở về chính thức được phỏng vấn đã nói rằng họ đã nhận được nhiều thông tin từ các cán bộ chống buôn bán người khi trở về, nhưng đôi khi như vậy là quá nhiều để có thể tiếp thu tại thời điểm trở về. Một người phụ nữ cho biết sau hàng giờ di chuyển, cô chỉ muốn về nhà càng sớm càng tốt, và đã không chú ý nhiều tới điều mà các cán bộ chống buôn người nói với cô tại sân bay. Một người trở về Thái Lan khác cho biết cô đã không thể nhớ tên những cán bộ đã gặp cô tại sân bay, hay cơ quan mà những cán bộ đó đang làm việc, hay nội dung mà họ nói cho cô.
Tuy nhiên sau đó, sau vài tháng trở về nhà, nhiều người trở về nhận ra những khó khăn khi quay về. Khoản tiết kiệm (nếu có) có thể đã được sử dụng, vị thế xã hội tại gia đình và cộng đồng có thể đã thay đổi, họ nhận ra họ không thể kiếm được đủ số tiền cần cho họ và gia đình, và họ có thể cảm thấy bị nêu xấu hoặc kì thị tại cộng đồng địa phương. Tại thời điểm này, nhiều người sẽ muốn được bắt đầu tìm kiếm các giải pháp thay thế, bao gồm tái di cư thông qua các kênh không chính quy hoặc vào các nhóm công việc (thường là không chính thức) mà trước đây họ đã bị bóc lột. Nói cách khác, họ trở nên dễ bị tấn công bởi nạn tái buôn người. Tuy nhiên, khi họ gặp khó khăn và bắt đầu xem xét các giải pháp thay thế, họ cũng có thể ở trong giai đoạn mà họ sẽ cởi mở hơn để nhận các hộ trợ, thậm chí có thể chủ động tìm kiếm hỗ trợ. Ngay cả những người ban đầu từ chối vào thời điểm này có thể sẽ sẵn sàng và có thiện chí hơn trong việc tham gia vào các chương trình tái hòa nhập. Để xác định những phụ nữ trờ về mà có thể cần hỗ trợ, hoàn toàn có lý khi cố gắng liên lạc với họ tại thời điểm trở về. Tuy nhiên, cần xem xét sự kiệt quệ về tinh thần và thể chất của họ, và dòng chảy những mối bận tâm và lo lắng mà nhiều nạn nhân trải qua trong quá trình trở về, họ có thể chưa chuẩn bị để xem xét các loại hỗ trợ được đưa ra lúc tiếp xúc ban đầu. Thách thức đặt ra là phải liên lạc với họ theo cách không làm lấn át họ, nhưng vẫn cho cô ta/anh ta biết cách để nhận được hỗ trợ khi cô/anh ta sẵn sàng để nhận..
Đào tạo thật sự cho công việc thật sự. Nạn nhân buôn người Thái Lan, tự trở về sau khi bị bóc lột tại các quốc gia ngoài Đông Nam Á như Nhật Bản và các nước Trung Đông, nhận được các đào tạo ngay trong công việc (ở trên) và các cơ hội nghề nghiệp (ở dưới) tại một nhà hàng có tiếng tại miền bắc Thái Lan. Đào tạo và hỗ trợ công việc được cung cấp bởi NGO SEPOM, cùng với sự hỗ trợ của ILO
Phụ nữ Philippin ở cuối hành trình: khám phá vấn đề giới tính trong di cư trở lại. Tài liệu được trình bày tại Hội thảo Quốc tế về DI cư Lao động Quốc tế và sự Thay đổi kinh tế - xã hội tại Đông Nam Á và Đông Á, Trung tâm Di cư Scalabrini, 2001. Nghiên cứu này tập trung vào các di dân quay trở lại là nữ nói chung và không giới hạn trong các nạn nhân của việc buôn bán người.
Trong nghiên cứu Asis (2001), 76% các di dân quay trở về được phỏng vấn đều thể hiện mong muốn được di cư trở lại và trong quá trình đánh giá nội bộ của một chương trình tái hòa nhập (nghiên cứu truy nguyên), tác giả đã phát hiện ra rằng xấp xỉ 75% nạn nhân người Miến Điện (Shan) mà đã nhận được các hỗ trợ khi trở lại và tái hòa nhập, đều đã di cư lại Thái Lan trong vòng một năm được trả về nước.
Tổ chức Quốc tế về Di cư (IOM), một trong những tổ chức hang đầu tập trung vào tiến trình trờ về và tái hòa nhập, đã hỗ trợ xấp xỉ 15.000 người kể từ năm 1994(
www.iom.int). Trong khi đây là một thành tích đáng biểu dương, chỉ có khoảng 0,15% số nạn nhân được dự đoán bởi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ (tính toán dựa trên ước đoán khoảng 700.000 người bị buôn bán hang năm trong 14 năm) và khoảng 0,6% con số dự đoán được sử dụng bởi ILO. Tính toán như vậy, dựa trên những ước đoán, cơ bản chỉ đưa ra được những dấu hiệu, và sẽ có những con số khác nhau đối với từng vùng và quốc gia. Tuy nhiên nghiên cứu tại các vùng cũng đưa ra các xu thế tương tự. Một nghiên cứu về nạn buôn người tại Đông Nam Âu cho kết quả là hỗ trợ tái hòa nhập chỉ được dành cho khoảng 7% phụ nữ bị buôn bán (UNICEF, UNOHCHR, OSCE-ODIHR, 2002).